|
|
| daily menu » rate the banner | guess the city | one on one |
|
|
#2041 |
|
Mr. Hoàng
Join Date: Oct 2010
Location: Thành Nam
Posts: 7,723
Likes (Received): 282
|
Đúng đấy bác ợ, em c̣n muốn nói đến là khu Giàn Leo chỗ gần bưu điện ư. Chưa kể cái sân của đài liệt sĩ mới làm xong đâu nhá. Khi cần cũng có thể tổ chức các sự kiện chính trị văn hoá xă hội ngon lành.
__________________
Thành Nam quê ta đó Là đất học, đất văn Bao danh nhân, trí sĩ Rạng danh đất Thiên Trường SSC Nam Định on Facebook: http://www.facebook.com/SkyScraperCityNamDinh |
|
|
|
|
#2042 | |
|
Chủ tịch lâm thời SSC NĐ
Join Date: Sep 2010
Location: Thành phố dệt anh hùng
Posts: 6,231
Likes (Received): 59
|
Quote:
Ah. tiện thể cho em hỏi trung tâm thể dục thể thao vùng đến đâu rồi ạ?
__________________
I love you forever - Love Paradise. |
|
|
|
|
|
#2043 |
|
Mr. Hoàng
Join Date: Oct 2010
Location: Thành Nam
Posts: 7,723
Likes (Received): 282
|
Các bác xem ở đây nhá: http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A...%BB%87t_Nam%29
Mật độ dân số TP Nam Định là 5196 người/ 1km2, cao nhất cả nước.
__________________
Thành Nam quê ta đó Là đất học, đất văn Bao danh nhân, trí sĩ Rạng danh đất Thiên Trường SSC Nam Định on Facebook: http://www.facebook.com/SkyScraperCityNamDinh Last edited by charming.namdinh; November 7th, 2010 at 04:14 PM. |
|
|
|
|
#2044 |
|
Registered User
Join Date: Jun 2010
Posts: 5,811
Likes (Received): 57
|
sang chơi, mà thấy có bác khó tính quá. có cha-mi nam định và suỵt lu vc là dễ mến ha?
__________________
Tp. Thanh Hoá, trung tâm Vùng Nam Bắc bộ và Bắc Trung bộ
|
|
|
|
|
#2045 |
|
Chủ tịch lâm thời SSC NĐ
Join Date: Sep 2010
Location: Thành phố dệt anh hùng
Posts: 6,231
Likes (Received): 59
|
khó tính j đâu hả bác? anh em luôn chào đón các mem ngoại tỉnh đến giao lưu mà.
__________________
I love you forever - Love Paradise. |
|
|
|
|
#2046 | |
|
B@nned
Join Date: Aug 2009
Location: Thiên Trường
Posts: 1,984
Likes (Received): 0
|
Quote:
Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều, Quảng Ninh); Tháp Báo Thiên ở Thăng Long (Hà Nội) Chuông Quy Điền (chuông ruộng rùa) ở chùa Diên Hựu (chùa Một Cột), Hà Nội Vạc Phổ Minh ở chùa Phổ Minh, Thiên Trường (Nam Định). Nếu phục chế lại Vạc Phổ Minh th́ sẽ c̣n thu hút được nhiều người con đến với chùa Phổ Minh, ngoài ra c̣n làm sống dậy 1 trong những quốc bảo của triều đại Trần nữa
|
|
|
|
|
|
#2047 | |
|
B@nned
Join Date: Aug 2009
Location: Thiên Trường
Posts: 1,984
Likes (Received): 0
|
Quote:
) do năm sau KĐT Thống Nhất mới có cơ bản hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng. V́ thế cái trụ sở đó vẫn được thành phố sử dụng thêm mấy năm nữa, c̣n sau th́ chắc sẽ sử dụng vào mục đích khác, có trời mới biết sẽ làm trụ sở cho cơ quan nào
|
|
|
|
|
|
#2048 | |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Quote:
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
|
#2049 |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
chú lại tự ti rồi.
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
#2050 | |
|
B@nned
Join Date: Aug 2009
Location: Thiên Trường
Posts: 1,984
Likes (Received): 0
|
Quote:
|
|
|
|
|
|
#2051 |
|
Registered User
Join Date: Jun 2010
Posts: 5,811
Likes (Received): 57
|
bác mấy tuổi thế, tuổi tôi có khi kém cha bác vài tuổi thôi nhá.
__________________
Tp. Thanh Hoá, trung tâm Vùng Nam Bắc bộ và Bắc Trung bộ
|
|
|
|
|
#2052 |
|
Mr. Hoàng
Join Date: Oct 2010
Location: Thành Nam
Posts: 7,723
Likes (Received): 282
|
Nên giữ hoà khí bạn ơi. Chúng ta có thể thoải mái tranh luận công bằng, nhưng tuyệt đối không nên lôi kéo bố mẹ ông bà của nhau vào câu chuyện. Tôn trọng người cũng là tôn trọng chính ḿnh. Hoan nghênh bạn hacthanh đến với thớt Nam Định và cảm ơn những đóng góp của bạn.
__________________
Thành Nam quê ta đó Là đất học, đất văn Bao danh nhân, trí sĩ Rạng danh đất Thiên Trường SSC Nam Định on Facebook: http://www.facebook.com/SkyScraperCityNamDinh |
|
|
|
|
#2053 |
|
Chủ tịch lâm thời SSC NĐ
Join Date: Sep 2010
Location: Thành phố dệt anh hùng
Posts: 6,231
Likes (Received): 59
|
Mới kiếm được cái này trên forum. Mang về cho anh em xem cho vui.
__________________
I love you forever - Love Paradise. |
|
|
|
|
#2054 |
|
Chủ tịch lâm thời SSC NĐ
Join Date: Sep 2010
Location: Thành phố dệt anh hùng
Posts: 6,231
Likes (Received): 59
|
Hác thánh lại thế rồi. Anh em chỉ nói đùa thế mà hác thành lại tỏ thái độ rồi ah?
__________________
I love you forever - Love Paradise. |
|
|
|
|
#2055 | |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Quote:
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
|
#2056 | |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Quote:
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
|
#2057 |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh kiểm tra tiến độ thi công, GPMB tuyến đường 32m tại Xuân Trường, đoạn từ cầu Lạc Quần đến trung tâm huyện
Cập nhật lúc 09:29, Thứ Hai, 08/11/2010 (GMT+7) Ngày 5-11-2010, Đoàn công tác của UBND tỉnh do đồng chí Đoàn Hồng Phong, Ủy viên Ban TVTU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đă về làm việc tại huyện Xuân Trường, kiểm tra tiến độ thi công, giải phóng mặt bằng Dự án đường 32m, đoạn từ cầu Lạc Quần về trung tâm huyện, thuộc Dự án xây dựng quần thể Khu lưu niệm Cố Tổng Bí thư Trường Chinh. Cùng đi với đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh có lănh đạo các Sở: Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư, Tài nguyên - Môi trường, Xây dựng, Giao thông Vận tải và Thanh tra tỉnh. Đồng chí Đoàn Hồng Phong, Uỷ viên Ban TVTU, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phát biểu tại buổi làm việc. Dự án gồm các hạng mục: tuyến đường từ cầu Lạc Quần đến trung tâm huyện dài 3,4km; hệ thống thoát nước; cầu Trà Thượng 2; cầu Bích Câu 2; cống bản và cống hộp; cống thoát nước, cống hộp thủy lợi; điện chiếu sáng và tuyến đường nhánh rộng 15m, dài 346m. Tổng mức đầu tư của dự án là 115,607 tỷ đồng. Thời gian thực hiện từ năm 2005 đến năm 2009. Đến nay, khối lượng thực hiện thi công các hạng mục công tŕnh đạt khoảng 95%. Các hạng mục công tŕnh chưa thi công và thi công dở dang gồm: 600m đường, cống hộp, hè đường và một phần thuộc khu vực tổ dân phố 14, 16 thị trấn Xuân Trường chưa giải phóng được mặt bằng; bê tông nhựa mặt đường đoạn từ đầu tuyến đến tổ dân phố 16 và đoạn từ cầu Bản đến Nhà văn hóa tổ 12; đảo giao thông, vuốt nối giao Quốc lộ 21 với 2 tuyến nhánh; hoàn thiện đường hai bên mố cầu Trà Thượng; vuốt dốc các vị trí giao giữa đường 32m với các đường trục xă; toàn bộ hệ thống đèn chiếu sáng trên tuyến đường. Nguyên nhân chậm tiến độ là do trong quá tŕnh triển khai dự án xuất hiện nhiều yếu tố cần điều chỉnh, bổ sung. Bên cạnh đó, vẫn c̣n 5 hộ dân chưa đồng ư với phương án giải phóng mặt bằng xen kẽ ở nửa bên trái đoạn đường dài 600m thuộc địa phận tổ 14, 15, 16 thị trấn Xuân Trường do các hộ yêu cầu giá đền bù cao hơn so với định mức Nhà nước quy định tại thời điểm lập phương án. Tại hội nghị, đại diện nhà thầu thi công kiến nghị huyện Xuân Trường nhanh chóng bàn giao mặt bằng, đảm bảo tiến độ thi công. UBND huyện cũng đề nghị nhà thầu khẩn trương đẩy mạnh tiến độ thi công các hạng mục đang thi công dở dang; đề nghị UBND tỉnh và các sở, ban, ngành của tỉnh cho phép và hướng dẫn, giúp đỡ chỉ đạo biện pháp thi công. Đồng thời giúp huyện Xuân Trường áp dụng biện pháp cưỡng chế giải phóng mặt bằng sau khi đă hoàn tất hồ sơ và triển khai vận động, thuyết phục lần cuối cùng, tạo điều kiện thi công sớm, hoàn thành đưa dự án vào sử dụng. Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh đánh giá cao nỗ lực của huyện Xuân Trường, đơn vị thi công và đề nghị huyện Xuân Trường có văn bản giải tŕnh nguyên nhân chậm tiến độ, yêu cầu có biện pháp giải phóng mặt bằng, không thay đổi giá đền bù đă được phê duyệt. Từ nay đến 15-11-2010, cần rà soát hồ sơ thủ tục, xây dựng phương án cưỡng chế sau khi đă rà soát, vận động các hộ dân lần cuối, đảm bảo giải phóng mặt bằng, kịp bàn giao cho đơn vị thi công, đảm bảo tiến độ của dự án hoàn thành trong tháng 12-2010./. Tin, ảnh: Thanh Tuấn
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
#2058 |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Thành uỷ Nam Định trao Huy hiệu Đảng cho các đảng viên có đủ tiêu chuẩn
Cập nhật lúc 09:33, Thứ Hai, 08/11/2010 (GMT+7) Nhân dịp kỷ niệm 93 năm Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917 - 7-11-2010), sáng 5-11-2010, Thành uỷ Nam Định đă tổ chức lễ trao tặng Huy hiệu 30 năm, 40 năm, 50 năm, 60 năm tuổi Đảng cho 204 đảng viên có đủ tiêu chuẩn. Trong đó, có 20 đảng viên được trao Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, 39 đảng viên được trao tặng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, 70 đảng viên được trao tặng Huy hiệu 40 năm tuổi Đảng và 75 đảng viên được trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng. Việc tổ chức lễ trao tặng Huy hiệu Đảng là dịp để các tổ chức Đảng và đảng viên ôn lại truyền thống cách mạng của quê hương, ghi nhận quá tŕnh cống hiến của các đảng viên, đồng thời giáo dục thế hệ trẻ về lư tưởng cách mạng, truyền thống của các thế hệ cha anh. Các đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng với trách nhiệm của ḿnh tiếp tục có những đóng góp, cống hiến, giáo dục vận động con cháu tích cực tham gia xây dựng thành phố ngày một giàu đẹp, văn minh./. Hoài Phương
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
#2059 |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Những con người kiệt xuất đã đi vào lịch sử Nam Định
Nam Định là mảnh đất "địa linh, nhân kiệt", nơi sản sinh ra nhiều vị tướng tài ba cùng những khôi nguyên, trí thức làm rạng danh non sông đất nước. Từ bao đời nay, người Nam Định luôn sáng tạo và có những đóng góp lớn lao cho quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Gương sáng của các bậc tiền bối đã có công dựng làng, mở nước, kiên cường trong lao động, sản xuất, anh dũng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm luôn được người dân nơi đây ngưỡng mộ và tự hào. Thời kỳ trước năm 1945 Trần Thái Tông tên thật là Trần Cảnh (1218 - 1277), vị vua đầu tiên của nhà Trần. Ông tên huý là Trần Bồ, là con thứ của Trần Thừa và bà Lê Thị Phong. Tổ tiên nhà Trần là Trần Kính, gốc ở Đông Triều (Quảng Ninh), chuyên nghề đánh cá, đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là xã Lộc Vương - thành phố Nam Định. Năm 8 tuổi, Trần Cảnh được Thái sư Trần Thủ Độ đưa vào cung. Ông lấy Lý Chiêu Hoàng và lên làm vua năm 1225 sau khi được Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi, mở đầu cơ nghiệp nhà Trần. Trần Cảnh làm vua đến năm 1258 thì nhường ngôi cho con để lên làm Thái Thượng hoàng. Dưới sự trị vì của Trần Cảnh, mọi hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, tôn giáo của Đại Việt đều hưng thịnh. Lần đầu tiên nước ta mở khoa thi Tam khôi, lập Quốc học viện. Việc đắp đê quai cũng bắt đầu ở thời kỳ này. Trần Cảnh là người sùng đạo Phật và chuyên tâm nghiên cứu Phật học nên vị trí của đạo Phật được đề cao trong đời sống văn hoá, tôn giáo đất nước. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ nhất (năm 1258), Trần Thái Tông đích thân cầm quân đánh giặc ở trận Đông Bộ Đầu và một số trận khác. Trần Liễu (1211 - 1251) là anh của vua Trần Thái Tông, cha của Trần Doãn và Trần Quốc Tuấn. Cuối đời Lý, ông có tước phong là Phụng Cần Vương, đến khi Trần Thái Tông dựng nghiệp, ông được phong là Hoài Vương, vợ ông là Thuận Thiên công chúa. Năm Đinh Dậu (năm 1237), Thái uý Trần Thủ Độ buộc Trần Cảnh phải bỏ Lý Chiêu Hoàng lấy Thuận Thiên công chúa khi ấy đang có mang. Trần Liễu tức giận nổi lên chống lại. Trần Thái Tông cũng phản đối, đang đêm bỏ ngai vàng lên núi Yên Tử ở với Phù Văn Quốc sư. Trần Thủ Độ đem quân ép Trần Thái Tông phải trở về, mặt khác điều động tướng sĩ đánh Trần Liễu. Không chống cự nổi, Trần Liễu đành khuất phục. Nhưng vua Trần Thái Tông không trị tội mà phong ông là An Sinh Vương, cho hưởng lộc của vùng An Phụ, An Đường, An Sinh và các trại An Hưng, An Bang. Một thời gian sau, Trần Liễu lâm bệnh rồi qua đời. Trên núi Yên Tử có đền thờ ông, tục gọi là đền Cao. Tượng đài Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1232 - 1300) là danh tướng tôn thất nhà Trần, con An Sinh Vương Trần Liễu và cháu vua Trần Thái Tông. Ông có tài quân sự, tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Mông - Nguyên lần thứ nhất (năm 1258), là người chỉ huy tối cao các cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai (năm 1285) và lần thứ ba (năm 1288). Ông được vua Trần Nhân Tông phong làm Quốc công Tiết chế, chỉ huy các đạo quân thuỷ, bộ. Thế giặc mạnh, nhà vua lo ngại muốn tạm hàng, ông khảng khái nói: "Bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước rồi hãy hàng". Trần Quốc Tuấn là tác giả của bài Hịch tướng sĩ khích lệ lòng quân, đôn đốc các vương hầu, binh tướng tận trung cứu nước. Ông cũng đặc biệt chú ý đến việc khoan sức dân để làm kế sâu gốc, bén rễ, đoàn kết dân tộc. Dưới tài lãnh đạo của ông, quân dân nhà Trần chiến thắng vang dội ở Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp, Bạch Đằng, giải phóng đất nước. Trần Quốc Tuấn là con người trung chính, luôn gạt bỏ những chuyện riêng tư để bảo vệ quyền lợi cho dân tộc. Trong tâm thức dân gian, người anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn trở thành một vị thánh (Đức Thánh Trần), được thờ ở nhiều nơi trên toàn quốc, đặc biệt trên quê hương Nam Định. Trần Thánh Tông, tên huý là Trần Hoảng (1240 - 1290), vị vua thứ hai của nhà Trần. Trần Thánh Tông lên ngôi vua ngày 24 tháng hai năm Mậu Ngọ (năm 1258), đổi niên hiệu là Thiệu Long. Ông ở ngôi vua 21 năm. Đến năm 1278, ông truyền ngôi cho con là Trần Nhân Tông (tức Trần Khâm) để làm Thái Thượng Hoàng. Ông là vị vua nhân từ, độ lượng, chăm lo việc nước. Những năm ở ngôi vua, trong nước bình yên không có giặc giã, Trần Thánh Tông khuyến khích khai khẩn đất hoang, mở mang điền trang, thái ấp bằng cách tập hợp những người nghèo đói, lưu lạc, giúp họ an cư lạc nghiệp. Nhà vua khuyến khích học hành bằng việc mở các khoa thi lựa chọn nhân tài. Dưới thời Trần Thánh Tông, nhà sử học Lê Văn Hưu đã viết bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là Đại Việt sử ký. Khi quân Mông - Nguyên xâm lược nước ta lần thứ hai và ba (năm 1285 và năm 1288), ông cùng Trần Nhân Tông lãnh đạo cuộc kháng chiến thắng lợi. Sau đó, ông lui về Bắc cung tu Phật, chuyên tâm soạn kinh sách Phật. Tác phẩm của ông gồm: Di hậu Lục, Cơ cừu lục, Thiền tông liễu ngộ ca,... Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải (1241 - 1294), danh tướng đời nhà Trần, con thứ ba của Trần Thái Tông, em ruột Trần Thánh Tông, hiệu là Lạc Đạo tiên sinh. Ông học nhiều, biết rộng, có tài văn chương, giỏi việc quân sự, có tài ngoại giao, ứng đối linh hoạt, mỗi khi có sứ nước ngoài đều được vua mời đến tiếp sứ. Năm 1258, ông được phong tước Chiêu Minh Đại Vương. Năm 1274 (thời Trần Thánh Tông), ông được cử giữ chức Tướng quốc Thái uý. Năm 1282, vua Trần Nhân Tông cử ông làm Thượng tướng Thái sư, nắm toàn quyền nội chính. Với cương vị người đứng đầu hàng quan văn trong triều, ông đã giúp vua Trần đề ra nhiều quyết sách có tác dụng phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục như chính sách khuyến nông, chăm sóc bảo vệ đê điều, mở mang trường học. Trong cuộc đánh đuổi quân Mông - Nguyên xâm lược (năm 1285 và năm 1288), ông cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo cuộc kháng chiến và lập được nhiều thành tích vẻ vang. Ông mất ngày 26-7-1294, thọ 53 tuổi. Ông là tác giả tập thơ Lạc đạo,... Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (1253 - 1330), hiệu Châu Văn, là con thứ sáu của vua Trần Thái Tông và Hoàng hậu Thuận Thiên. Từ nhỏ, ông sớm bộc lộ bản lĩnh thiên tài và ham thích hiểu biết. Trần Nhật Duật văn võ kiêm toàn, được giao nhiều trọng trách, tham gia cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Mông - Nguyên và lập được nhiều chiến công hiển hách, đặc biệt là ở trận Hàm Tử. Ông được phong là Tả Thánh Thái sư Chiêu Văn Đại Vương. Trần Nhật Duật là người học rộng, thông hiểu sử sách, đạo giáo. Ông sử dụng thành thạo tiếng Tống, tiếng Chiêm Thành và ngôn ngữ của một số dân tộc, cũng như am hiểu phong tục, tập quán của những vùng đó. Ông được giao coi nhiều trấn trong nước. Riêng ở Thanh Hoá, ông gắn bó nhiều hơn. Vợ ông là Trịnh Phúc phu nhân, quê ở Thanh Hoá. Triều đình cũng sử dụng con cháu ông làm tri phủ Thanh Hoá. Tại làng Vân Trinh phủ Thanh Hoá, huyện Quảng Xương có đền thờ Trần Nhật Duật. Ông mất năm 1330, thọ 77 tuổi. Trần Nhân Tông tên huý là Trần Khâm (1258 - 1308), miếu hiệu là Nhân Tông, con trưởng của Trần Thánh Tông, mẹ là Nguyễn Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu. Ông sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu Ngọ (năm 1258). Ông là vị vua thứ ba của nhà Trần, lên ngôi ngày mồng 1 tháng giêng năm Kỷ Mão (năm 1279), đổi niên hiệu là Thiệu Bảo. Trần Nhân Tông đồng thời là nhà Phật học, đứng đầu Trúc Lâm tam tổ, phái Thiền tông Yên Tử. Dưới triều đại mà ông trị vì, nổi bật là tư tưởng quân dân đại đoàn kết. Ông cùng với vua cha và các bậc đại thần trong dòng tộc như: Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải,... thường xuyên chấn chỉnh việc nước, tăng cường sức mạnh dân tộc, vượt qua mọi khó khăn, hai lần đánh tan quân Mông - Nguyên xâm lược. Dưới triều Trần Nhân Tông còn có nhiều thành tựu nổi bật về văn hoá, giáo dục, ngoại giao,... Năm Quý Tỵ, ông nhường ngôi cho con là Trần Thuyên để làm Thái Thượng hoàng, cùng con coi sóc việc nước. Trần Nhân Tông là vị Thái Thượng hoàng duy nhất của nhà Trần sang Chiêm Thành. Năm 1299, ông giũ sạch bụi trần, lên núi Yên Tử ẩn tu, lấy pháp hiệu là Hương Vân đại đầu đà, khai sáng phái Yên Tử, được tôn là vị tổ thứ nhất Trúc Lâm Yên Tử. Năm 1308, Trần Nhân Tông qua đời tại am Nga Vân - Yên Tử, thọ 51 tuổi. Lương Thế Vinh (1441 - 1496) Lương Thế Vinh (1441 - 1496) tự là Cảnh Nghi, hiệu là Thuỵ Hiên, người xã Cao Hương, huyện Thiên Bản, nay thuộc thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản. Ông thi đỗ trạng nguyên khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4 (năm 1463). Đời Lê Thánh Tông, ông làm quan tới chức Tả Thị lang bộ Hộ, tước Hương Lĩnh hầu. Ông còn giữ chức Sái phu trong hội Tao Đàn. Lương Thế Vinh không chỉ là nhà chính trị liêm khiết, cương trực mà còn là nhà khoa học lớn của thế kỷ thứ XV. Ông dành nhiều thời gian nghiên cứu toán học, văn học, âm nhạc và để lại nhiều tác phẩm có giá trị. Ông còn là nhà nghiên cứu Phật học, người viết đề tựa hai tác phẩm Phật học đời Lý của nhà sư Thường Chiếu, đó là Thiền môn giáo khoa và Nam tông tự pháp đồ. Ông viết tác phẩm Thích điều giáo khoa Phật kinh thập giới giảng giải 10 điều răn của Phật học, bài xích thói hư tật xấu ở đời, đả kích tệ lậu của bọn quan lại tham nhũng. Phạm Văn Nghị (1805 - 1880), người xã Tam Đăng, huyện Đại An, nay là thôn Tam Đăng, xã Yên Thắng, huyện ý Yên. Ông đỗ tú tài năm 1826, cử nhân khoa Đinh Dậu (năm 1837) và đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Mậu Tuất (năm 1838), niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (năm 1838) khi 34 tuổi. Ban đầu, ông giữ các chức Hàn lâm Tu soạn, Tri phủ Lý Nhân, Sử quán Biên tu. Từ năm 1864, ông cáo bệnh xin về quê dưỡng bệnh và dạy học. Ông còn chiêu mộ dân chúng khai hoang, lập ấp gọi là trại Sĩ Lâm. Khi quân Pháp đánh chiếm Sơn Trà (năm 1858), ông dâng sớ chống giặc ở Sơn Trà. Ông chiêu mộ đội quân nghĩa dũng hơn 300 người đích thân dẫn đầu đoàn quân vào Huế xin triều đình cho đi đánh giặc cứu nước. Nhưng khi vào đến Huế thì nghe tin quân Pháp đã rút lui, triều đình lệnh cho ông rút quân về phòng thủ tại tỉnh nhà. Năm Tự Đức thứ 19 (năm 1866), ông được giữ chức Thượng biện Hải Phòng sứ. Khi quân Pháp đánh các tỉnh Bắc Kỳ, ông lại cùng đội quân nghĩa dũng tổ chức căn cứ kháng chiến ở vùng núi Ninh Bình. Triều đình trao cho ông thêm chức Thượng biện Tỉnh vụ. Năm 1873, Thành Nam Định thất thủ, triều đình ký hiệp ước nhượng bộ với Pháp, ông lùi về ẩn cư ở động Liên Hoa, vùng Hoa Lư, Ninh Bình, tự là Liên Hoa động chủ nhân, rồi qua đời ở đó, thọ 76 tuổi. Nguyễn Thế Rục (1902 - 1938) người làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường. Từ nhỏ, ông được gia đình cho học ở Pháp. Năm 1923, ông học Đại học Thương mại Montpellier. Do tiếp xúc cách mạng Pháp, nhất là ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười, Nguyễn Thế Rục đã giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1925, ông bỏ học sang Nga để theo học tại Trường Xtalin ở Mátxcơva. Ông được chọn vào học Trường đại học Phương Đông, nơi được mệnh danh là Trường đại học "Giáo sư đỏ" đào tạo những nhà lý luận cho phong trào cộng sản á - Phi. Năm 1927, do yêu cầu của phong trào cách mạng trong nước, mặc dù sức khoẻ yếu, ông quyết tâm về nước hoạt động. Từ tháng 4-1930, sau khi Trần Phú về nước, Nguyễn Thế Rục và Trần Phú thường xuyên gặp gỡ trao đổi chuẩn bị nội dung Luận cương chính trị. Bất chấp sức khoẻ ngày một yếu, ông vẫn hăng hái tham gia công tác Đảng. Năm 1936, khi Mặt trận Bình dân Pháp lên cầm quyền, Nguyễn Thế Rục tham gia tổ chức phong trào Đông Dương Đại hội, công tác xuất bản báo Le Travail (Lao Động), góp phần đưa phong trào vận động dân chủ của Đảng Cộng sản lên cao. Ông mất ngày 25-5-1938. Thời kỳ từ năm 1945 đến nay Trần Huy Liệu (1901 - 1969), nhà hoạt động cách mạng, nhà văn, nhà sử học, nhà thơ với các bút danh Nam Kiều, Đầu Nam, Hải Khách,... Ông quê ở làng Vân Cát, xã Kim Thái, huyện Vụ Bản. Trần Huy Liệu xuất thân trong một gia đình nhà Nho yêu nước, 17 tuổi ông đã làm thơ và viết báo. Ông tham gia hoạt động xã hội từ năm 1924, từng viết bài cho các báo Thực nghiệp, Khai hoá, Đời mới,... Những năm 1922 - 1927, ông làm chủ bút tờ Đông Pháp thời báo. Tháng 6-1927, Trần Huy Liệu bị kết án tù vì tham gia các tổ chức yêu nước. Năm 1928, ông thành lập "Cường học thư xã" chuyên xuất bản sách cổ vũ tinh thần yêu nước, nâng cao dân trí. Cũng trong năm 1927, ông gia nhập Quốc dân Đảng và tổ chức Đảng bộ tại Nam Bộ. Năm 1928, ông bị Pháp bắt và kết án 5 năm tù giam và bị đầy ra Côn Đảo. Trong tù, ông tiếp thu chủ nghĩa cộng sản, tuyên bố ly khai Quốc dân Đảng, tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người cộng sản (năm 1934). Năm 1935, Trần Huy Liệu ra tù và bị trục xuất về miền Bắc. Năm 1936, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương và đảm nhận nhiều công tác quan trọng của Đảng như: Chủ bút báo Tin tức (Cơ quan ngôn luận công khai của Đảng Cộng sản Đông Dương), đại biểu của Đảng trong Mặt trận Dân chủ (1936 - 1939), tham dự Quốc dân đại hội, Phó Chủ tịch Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc (năm 1945), Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền trong chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà,... Ông được mời làm Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học nước Cộng hoà Dân chủ Đức (năm 1963). Trần Huy Liệu là nhà báo, nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động cách mạng, nhưng trước hết là nhà sử học và khoa học xã hội nổi tiếng. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về bộ sách Lịch sử 80 năm chống Pháp. Đồng chí Trường Chinh - cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Trường Chinh (1907 - 1988), tên thật là Đặng Xuân Khu, bút danh Sóng Hồng, quê ở làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường. Năm 1925, ông tham gia phong trào đòi thực dân Pháp trả tự do cho Phan Bội Châu. Năm 1926, ông tham gia lãnh đạo cuộc bãi khoá của học sinh các trường Nam Định để truy điệu Phan Chu Trinh. Năm 1927, ông gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, Trường Chinh được chỉ định vào Ban Tuyên truyền cổ động Trung ương của Đảng Cộng sản Đông Dương. Cũng năm đó, ông bị giặc Pháp bắt, giam ở Hoả Lò và nhà ngục Sơn La. Cuối năm 1936, ông được trả tự do và được bầu làm Uỷ viên Xứ uỷ Bắc Kỳ. Năm 1940, ông được cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chủ bút tờ báo Giải Phóng. Năm 1941, ông được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 1945, ông phụ trách Uỷ ban Khởi nghĩa toàn quốc và có những đóng góp to lớn cho thành công của Cách mạng Tháng Tám vĩ đại. Năm 1951, sau Đại hội Đảng lần thứ II, ông tiếp tục giữ chức Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam đến năm 1956. Trong giai đoạn 1960 - 1981, ông được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Từ năm 1981 đến tháng 7 năm 1986, ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ tháng 7 đến tháng 12 năm 1986, ông giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông mất ngày 30-9-1988, tại Hà Nội. Trường Chinh là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam, có nhiều cống hiến to lớn về phương diện lý luận cách mạng, tư tưởng chính trị. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm và văn kiện nổi tiếng: Đề cương văn hoá Việt Nam (năm 1943), Nhật - Pháp đánh nhau và hành động của chúng ta (năm 1945), Kháng chiến nhất định thắng lợi (năm 1947), Chủ nghĩa Mác và Văn hoá Việt Nam (năm 1948),... Đồng chí Lê Đức Thọ thăm đền Trần - chùa Tháp (năm 1989) Ảnh: Đỗ Dương Uyên Lê Đức Thọ ( 1911 - 1990), tên thật là Phan Đình Khải, quê ở xã Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, nay là xã Nam Vân, huyện Nam Trực. Ông hoạt động cách mạng từ năm 1926, bị địch bắt nhiều lần, giam ở các nhà lao Côn Đảo, Hà Nội, Sơn La, Hoà Bình. Đầu năm 1945, ông được bầu làm Uỷ viên Trung ương Đảng, trực tiếp phụ trách Xứ uỷ Bắc Kỳ. Năm 1948, ông được cử vào chiến trường phía Nam làm Phó Bí thư Xứ uỷ Nam Bộ. Tại Đại hội Đảng lần thứ II, ông được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1955, ông được cử vào Bộ Chính trị Trung ương Đảng và lần lượt được giao nhiều công tác trọng yếu. Năm 1968, ông là cố vấn đặc biệt phái đoàn Việt Nam đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Pari cùng ngoại trưởng Mỹ - Kitxinhgiơ giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ông tham gia trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh trong cuộc Tổng tấn công mùa xuân năm 1975 để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), ông là cố vấn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được nhà nước phong tặng Huân chương Sao Vàng. Văn Cao (1923 - 1995), tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh ngày 15-11-1923, tại phường Lạch Tray - Hải Phòng. Nguyên quán của ông là làng An Lễ, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản. Thuở nhỏ Văn Cao sống ở Hải Phòng, rồi lên Hà Nội theo học tại Trường cao đẳng mỹ thuật Đông Dương. Ông tự học âm nhạc và sớm trở thành nhạc sĩ nổi tiếng với nhạc phẩm: Suối mơ, Trương Chi và Bến Xuân (sau sửa lời thành Đàn chim Việt), đặc biệt là bài Tiến quân ca - quốc ca của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong những năm 1943 - 1944, ông tham gia Mặt trận Việt Minh, hoạt động bí mật ở nội thành. Ngày 19-8-1945, bài Tiến quân ca của ông được hát tại Nhà hát lớn Hà Nội trước cuộc biểu tình của nhân dân Hà Nội đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Năm 1946, Quốc hội khoá I chọn bài Tiến quân ca của Văn Cao làm Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1947, ông phụ trách bộ phận điều tra đặc biệt của Công an Liên khu X ở Lao Cai và làm báo Độc Lập. Năm 1948, ông làm công tác phong trào văn nghệ Liên khu III, đảm nhiệm việc trình bày báo Thủ Đô của Uỷ ban Hành chính Hà Nội và được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Từ năm 1955 đến năm 1958, ông làm việc ở Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam, hội viên Hội Nhạc sĩ, Hội Mỹ thuật, Hội Nhà văn. Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam nhiều khoá, Phó Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam. Ông qua đời năm 1995, thọ 72 tuổi. Năm 1996, ông được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 cho cụm ca khúc: Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam, Làng tôi, Sông Lô, Tiến về Hà Nội, Ca ngợi Hồ Chủ tịch,... Những nhân vật lịch sử - văn hoá nêu trên đã góp phần tạo nên sức mạnh tinh thần của người Nam Định nói riêng, dân tộc Việt Nam nói chung trong quá trình dựng nước và giữ nước. Những người con ưu tú, nhà văn hoá lớn của Nam Định như: Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lương Thế Vinh, Phan Văn Nghị, Trần Tế Xương, Trường Chinh,... đã trở thành niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
|
|
#2060 |
|
Nam Định Ḿnh Ơi!
Join Date: Sep 2010
Location: Thành Nam - Việt Nam
Posts: 13,261
Likes (Received): 9
|
Di tích lịch sử, danh thắng thành Nam
Từ xa xưa đến nay, Nam Định được coi là vùng đất "địa linh, nhân kiệt", nơi phát tích của triều Trần (thế kỷ XIII - XIV), cũng là nơi sản sinh ra nhiều danh nhân, danh sĩ, võ tướng mà tên tuổi và sự nghiệp của các vị đó được sử sách ghi công, nhân dân tôn thờ. Qua các ngày lễ hội hàng năm, người dân Nam Định bày tỏ lòng ngưỡng mộ những vị anh hùng dân tộc đã sinh ra tại Nam Định hoặc đã chiến đấu trên mảnh đất này. Họ thờ cúng những những vị thành hoàng có công dựng xã, giúp dân và nêu cho dân xã những tấm gương sáng về học tập, lao động và chiến đấu. Bài học lịch sử luôn luôn là sức mạnh tinh thần cổ vũ nhân dân trong sự nghiệp chống giặc, giữ nước qua các kỳ lịch sử từ ngàn xưa cho đến hôm nay. 1. Đền Đá Đền Đá thuộc thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, được xây dựng theo phong cách kiến trúc thời Hậu Lê, thờ ba vị tướng thời Hùng Duệ Vương. Tích xưa kể rằng: ông Vũ Sơn người Châu ái (Thanh Hoá) chuyên bốc thuốc và dạy học, rời quê hương tìm đường sinh sống. Khi đến làng Kim Âu - huyện Giao Thuỷ - phủ Thiên Trường (nay là xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực) thấy phong cảnh hữu tình, dân cư đông đúc đã xin ở lại làm ăn. Ông có ba người con là Gia Sửu, Gia Ngọ và Vũ Uy. Ba anh em được cha mẹ cho ăn học chu đáo. Sau khi cha mẹ qua đời, ba anh em ra đầu quân và được vua Hùng Duệ Vương phong tướng. Sau khi lập được nhiều chiến công, cả ba anh em trở về quê hương chia Kim Âu thành ba làng là Võ Lao, Thượng Lao, Nan Hà, khuyên dân chăm lo việc đồng áng, lấy cây lúa làm đầu, dựng nhà dạy học cho con em trong làng. Sau khi mất, ba ông được dân làng lập đền thờ. 2. Đền Vĩnh Lại Đền Vĩnh Lại thuộc thôn Vĩnh Lại, xã Vĩnh Hào, huyện Vụ Bản. Ngôi đền này thờ Bạch Đẳng - Cao Lôi, hai vị tướng dưới thời Hai Bà Trưng. Tương truyền, thời đó ở quận Phong Châu có ông Bạch Bằng, vợ là Hoàng Thị Đảng, ăn ở hiền lành, dốc lòng làm việc nghĩa. Hai ông bà sinh được cậu con trai khôi ngô, tuấn tú và đặt tên cho con là Bạch Đẳng. Năm 16 tuổi, cha mẹ ông qua đời. Sau khi báo hiếu cha mẹ, ông nghe danh Hai Bà Trưng là người có chí lớn nên tìm đến mong được góp phần vào việc đại nghĩa. Trưng Trắc nhận ông làm con nuôi, nên ông có tên là Nghĩa Nuôi. Dưới trướng Hai Bà Trưng, Bạch Đẳng gặp Cao Lôi và hai người kết nghĩa anh em, cùng về trang Vĩnh Phúc - huyện Thiên Bản - phủ Nghĩa Hưng (nay thuộc xã Vĩnh Hảo - huyện Vụ Bản) để mộ thêm quân lính. Tại trang Vĩnh Phúc, hai ông đã xây dựng đồn trong, đồn ngoài ở phía đông và phía tây khá kiên cố. Đồn xưa, nay không còn, nhưng dấu ấn vẫn in đậm trong tên các địa danh. Đó là khu đồng binh với cánh đồng Rậm, diện tích khoảng chừng hơn ba mẫu, cùng con bơn chạy dọc từ Đông sang Tây với tên gọi là đường Rậm như dãy thành đất che chắn ở mặt Bắc. Phía đông và đông nam đồng binh còn có dòng sông cổ, uốn khúc như một hào sâu án ngữ rất tiện lợi cho việc phòng thủ. Đền Trần mùa lễ hội (thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định) Ảnh: Đỗ Thị Lý Khi Mã Viện xâm lược nước ta lần thứ hai, hai ông đã tuyển lựa những người tâm phúc trong các dòng họ ở trang Vĩnh Phúc để cùng lo việc nước. Mùa xuân năm Quý Mùi (năm 42), Hai Bà Trưng cùng các tướng sĩ trong thế yếu phải rút lui. Trước thế giặc quá mạnh, Bạch Đẳng và Cao Lôi đã nhảy xuống sông tự vẫn để giữ tấm lòng tận trung với nước. Nhân dân trang Vĩnh Phúc thương tiếc hai vị tướng tài danh đã lập đền thờ trên mảnh đất nguyên là doanh trại xưa. 3. Đền Trần Đền Trần thuộc thôn Tức Mặc - xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định. Đền Trần gồm có đền Thiên Trường (gọi là đền thượng) và đền Cố Trạch (còn gọi là đền hạ) được xây dựng sát cạnh nhau, vốn trước đây là khu trung tâm của Hành cung Thiên Trường. Đền Thiên Trường thờ 14 vị vua Trần. Tích xưa kể rằng: năm 1239, vua Trần cho dựng cung điện ở đây và giao cho Phùng Tá Chu chỉ đạo thi công. Lê Trác, người đương thời đã viết về hành cung này như sau: "ở nơi ấy nước thuỷ triều quanh thành, hoa cỏ bên bờ mùi hương xông ngát, có những thuyền trang hoàng đẹp đẽ qua lại trên sông, y như cảnh tiên vậy". Đền Cố Trạch thuộc Khu di tích đền Trần (xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định) Tức Mặc là cung điện lớn thời Trần, nhưng đã bị giặc ngoại xâm tàn phá. Trong khu di chỉ này, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di vật quan trọng. ở đền Thiên Trường, người ta đã tìm thấy một đường cống thoát nước ngầm. Dưới lòng đất xung quanh đền Trần, đào xuống 0,2 - 0,3 m ở bất kỳ chỗ nào cũng gặp rất nhiều gạch ngói cổ. Trong đợt thám sát năm 1976, ở độ sâu 0,3 m, các nhà khảo cổ đã gặp tầng nền móng, trong đó có cả gạch bó kè. Những cánh đồng xung quanh đền với diện tích khoảng trên hai mẫu Bắc Bộ còn mang nhiều tên lịch sử như Kho Nhi, Nội Cung, Cửa Triều,... ở các địa điểm có liên quan đến di tích, các nhà khảo cổ đã phát hiện có nhiều đồ gốm, men nâu, đầu rồng, đầu phượng đất nung, gạch hoa, ngói mũi hài để trang trí trên các công trình xây dựng và nhiều đồ gia dụng như; bát, đĩa, thạp,... Thậm chí, nhiều đáy bát còn ghi chữ "Thiên Trường phủ chế". Đền Bảo Lộc trong ngày lễ hội (xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc) 4. Đền Bảo Lộc (đền An Lạc hay đền Hà Lộc) Đền Bảo Lộc thuộc xã Mỹ Phúc, huyện Mỹ Lộc, thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đền được xây dựng trên trang ấp cũ của An Sinh Vương Trần Liễu, thân sinh của Hưng Đạo Vương. Cách đền 600 m về phía đông, năm 1979, các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều di vật đời Trần như gạch hoa, đầu rồng đất nung, mô hình tháp, bát, đĩa,... Ngôi đền này nằm sát khu vực cung điện nhà Trần xưa, cung đệ tam, vườn lựu,... Đền Bảo Lộc ban đầu được xây dựng ven sông Châu (Hoàng Giang) ngôi đền có ba gian bằng gỗ, thấp. Sau bờ sông bên này bị lở, đền được chuyển vào khu vực hiện nay với ba gian lợp rạ. Khi làm lại, đền được xây thành ba toà theo kiểu chồng diêm. Năm 1928, đền Bảo Lộc được trùng tu, tôn tạo với quy mô như hiện nay. Đền Bảo Lộc nằm chính giữa, bên trái là chùa, bên phải là phủ, phía sau là nhà Khải Thánh thờ cha mẹ Trần Hưng Đạo. Tháp chùa Phổ Minh tại thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, thành phố Nam Định 5. Chùa Phổ Minh Chùa Phổ Minh thuộc thôn Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định, được xây dựng vào năm 1262 dành cho việc thờ Phật của vua quan quý tộc nhà Trần. Chùa được xây dựng theo kiến trúc chữ công, đồ án kiến trúc sớm nhất của Việt Nam. Ngoài thờ Phật, chùa là nơi thờ phụng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang - ba vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Phật giáo mang tính độc lập và sáng tạo của tư tưởng Việt Nam. Trong những năm 1970, việc đào thám sát khảo cổ đã chứng minh, chùa Phổ Minh là địa điểm có nhiều di sản văn hoá thời Trần như chân cột chạm cánh sen, rồng đá, sóc đá, đồ gốm. Đặc biệt, tháp Phổ Minh cao 19,51 m, 14 tầng (được xây dựng từ thế kỷ XIV) còn khá nguyên vẹn là bằng chứng sinh động nhất của thời Trần còn lại đến hôm nay. 6. Chùa Keo Hành Thiện (chùa Thần Quang) Chùa Keo Hành Thiện thuộc xã Xuân Hồng - huyện Xuân Trường là quần thể kiến trúc với 13 toà rộng, dãy dài gồm 121 gian nối tiếp nhau, soi bóng xuống mặt hồ. Gác chuông trước cửa chùa có kiến trúc kiểu tam quan nội năm gian, chồng diêm, mái cong, bờ cánh kẻ bẩy uốn lượn. Phía dưới là tám đại trụ và 16 cột quân được đặt trên đá tảng chạm khắc hoa văn cánh sen nở. Phần trên, kết cấu theo kiểu chồng rường đỡ mái. Những mảng cuốn ở các vì và các then ngang, đố dọc mang phong cách thuộc thời Hậu Lê. Hai bên đường kiệu lát gạch, kế liền là hai dãy hành lang, mỗi dãy gồm 40 gian bề thế. Quang cảnh lễ hội tại chùa Keo Hành Thiện (xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường) Ảnh: Hương Trang Tiền đường năm gian, mái cong, toà đệ nhị ba gian, toà thờ Phật và ba toà sau thờ Thánh tổ Thiền sư Không Lộ. Cuối cùng là 10 gian nhà tổ. Chùa còn lưu giữ những di vật có giá trị của thế kỷ thứ XVII: án thư, sập thờ, tượng pháp, chuông khánh, văn bia, hoành phi, câu đối và sách chữ Hán nói về lịch sử chùa Keo. Kể từ ngày khởi dựng, chùa Keo Hành Thiện đã được tu sửa nhiều lần vào các năm: Hoằng Định thứ 13 (năm 1612), Cảnh Trị thứ 9 (năm 1671), Chính Hoà thứ 25 (năm 1704), Thành Thái thứ 7 (năm 1896). Năm 1962, chùa Keo được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá. Hàng năm, chùa mở hội hai lần vào dịp tết Nguyên Đán và hội tháng 9 (mở vào ngày 13, 14, 15) để kỷ niệm ngày sinh của Thánh tổ Không Lộ. Trong đó, hội tháng 9 được tổ chức trọng thể. Ngoài những nghi thức mang tính tôn giáo, hội tháng 9 còn là nơi hội tụ các sinh hoạt văn hoá tinh thần của cư dân nông nghiệp. Chính vì vậy, vào ngày hội, không chỉ nhân dân trong vùng mà du khách thập phương trong Nam ngoài Bắc đều nô nức kéo về dự hội. 7. Chùa Cổ Lễ (chùa Thần Quang) Tháp chùa Cổ Lễ (Thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh) Ảnh: Đăng Thanh Chùa Cổ Lễ thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, một di tích lịch sử - văn hoá, thắng cảnh nổi tiếng vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Chùa Cổ Lễ do Hoà thượng Phan Quang Tuyên xây dựng vào tháng 11 năm 1920. Hoà thượng đã hạ giải ba chùa nhỏ đều ở làng Cổ Lễ, tương truyền do Thiền sư Nguyễn Minh Không lập vào thế kỷ thứ XII thời Lý. Chùa dựng trên một nền đất vuông, có sông nhỏ và hồ bao quanh. Chùa Cổ Lễ ngoài thờ Phật, còn thờ Thiền sư Nguyễn Minh Không, người đã từng chữa cho vua Lý Thần Tông thoát khỏi cơn bệnh hiểm nghèo. Trong kháng chiến chống Pháp (năm 1947), chùa Cổ Lễ là nơi làm lễ xuất phát cho 29 vị sư tự nguyện cởi áo cà sa ra mặt trận giết giặc cứu nước. Nhà sư Phạm Thế Long, người kế tục Hoà thượng Phạm Quang Tuyên trụ trì ngôi chùa này đã tham gia kháng chiến, sau này trở thành Hoà thượng, ông đã giữ nhiều trọng trách trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam. 8. Cột cờ Thành Nam Cột cờ Thành Nam được xây dựng vào thế kỷ thứ XIX. Theo "Đại dư thuế lệ", cột cờ Thành Nam xây cùng thời với cột cờ Hà Nội (năm 1812). Công trình này được bổ sung nhiều lần, nên đến năm Quý Mão (năm 1843) mới hoàn thành. Cột cờ Nam Định được xây dựng từ thời Nguyễn (1912 - 1943) Cột cờ Thành Nam cao 23,84 m - công trình kiến trúc cao nhất trong thành Nam Định, được xây vào năm Gia Long thứ 11 (năm 1812) ở phía nam nội thành, cách Vọng Cung khoảng 100 m. Cột cờ được xây trên hai tầng bệ, cột hình vuông thu dần từ dưới lên trên. Tầng dưới cũng hình vuông mỗi cạnh 16,33 m, cao 2,40 m. Hai phía Đông và Tây của tầng một có hai cầu thang 10 bậc, xây bằng gạch dẫn lên tầng hai. Tầng này mỗi cạnh 11,42 m, cao 3,10 m. Bốn mặt bệ đều xây lan can, trổ bốn cửa. Trên khuôn cửa Đông có hai chữ "nghênh húc" (đón ánh sáng ban mai). Khuôn cửa Nam có hai chữ "hướng quang" (hướng theo đức sáng). Cột cờ Thanh Nam gắn liền với nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng. Ngày 27-3-1883, tàu chiến Pháp từ sông Đào bắn phá vào trong thành. Trong đó, một phát đạt đã bắn trúng cột cờ ở độ cao 11 m, cắm sâu vào cột cờ 4 cm, đường kính 6 cm. Thời kỳ hoạt động bí mật, nhiều cán bộ, đảng viên lấy cột cờ làm nơi liên lạc và sinh hoạt để bàn kế chỉ đạo phong trào. Năm 1967, Nam Định bị máy bay giặc Mỹ đánh phá. Đỉnh cột cờ là nơi tổ quan sát máy bay do đồng chí La Vĩnh Hảo - tự vệ Nhà máy Dệt chỉ huy làm nhiệm vụ viễn tiêu. Cột cờ Thành Nam được Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử - văn hoá cấp Nhà nước theo Quyết định số 313 ngày 28-4-1962. 9. Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh Nhà lưu niệm thuộc xóm Bảy, làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, nơi sinh trưởng của đồng chí Trường Chinh. Ngôi nhà này do ông Đặng Xuân Bảng xây dựng năm Nhâm Dần (năm 1903) cho người con thứ tư là Đặng Xuân Viện - cụ thân sinh của đồng chí Trường Chinh. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh về thăm Nhà lưu niệm cố Tổng Bí thư Trường Chinh (xóm Bảy, làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường) Ảnh: Đỗ Thị Lý Nhà trên gồm 5 gian làm bằng gỗ lim, hướng nam, hai hồi và tường xây bằng gạch. Hai gian buồng ở hai đầu, có bức chạm ngăn cách với khu nhà khách ở giữa. Cửa hồi phía đông thông xuống bếp rồi đến dãy nhà ngang lợp bổi, gồm năm gian nhỏ. Phía trước có tường hoa, sân gạch và một ao nhỏ nằm sát ở phía ngoài đường giong. Bờ ao có một số cây lưu niên. Giáp đường là hàng dậu bằng tre được xén ngay ngắn. Lối vào là cổng gạch được xây dựng khá cổ kính. Bên cạnh khu nhà là nhà khách - nhà trưng bày lưu niệm, trước đây là nhà của ông Đặng Xuân Tiết - anh ruột của ông Viện. Đây cũng là ngôi nhà năm gian, bằng gỗ lim, nằm cùng dãy quay hướng Nam như nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh. Khu nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh là di tích lịch sử gắn liền với thân thế, sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của nhà lãnh đạo kiệt xuất, giữ nhiều trọng trách quan trọng nhất của Đảng và Nhà nước, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Bãi biển Quất Lâm, huyện Giao Thuỷ Ảnh: Lã Quý Tráng 10. Bãi biển Quất Lâm Khu du lịch biển Quất Lâm thuộc huyện Giao Thuỷ có quy hoạch rộng 58 ha, chính thức được khai thác từ năm 1999. Khu trung tâm của Quất Lâm hình thành tự nhiên hai hồ lớn, mỗi hồ khoảng 10ha. Trong tương lai, hồ sẽ được kè bờ làm đường xung quanh và xây dựng khách sạn cao tầng, nhà hàng, khu câu cá, khu bơi thuyền, khu thuỷ cung,... Dọc theo bãi tắm, năm 2003 đã xây dựng đường bê tông, đặc biệt bãi biển Quất Lâm là bãi biển hoang sơ và đẹp, môi trường trong sạch. Quất Lâm đã thu hút nhiều thành phần kinh tế đến đầu tư xây dựng. Trong tương lai, Quất Lâm sẽ trở thành khu đô thị biển sầm uất của tỉnh Nam Định. 11. Bãi biển Thịnh Long Biển Thịnh Long (huyện Hải Hậu) đã trở thành khu nghỉ mát từ những năm 1940. Song phải đến những năm 1960, khi Công đoàn tỉnh Nam Định đầu tư xây dựng khu nhà nghỉ thì nơi đây mới được nhiều người dân biết đến. Ba năm lại đây, sau khi xã Hải Thịnh được Chính phủ cho phép nâng cấp thành thị trấn Thịnh Long, khu du lịch biển Thịnh Long mới trở nên sầm uất. Để khai thác tiềm năng của kinh tế biển nơi đây, Thịnh Long đã được tỉnh đầu tư xây dựng cảng biển thương mại. Bãi biển Thịnh Long, huyện Hải Hậu Ảnh: Thanh Giang Quy hoạch thị trấn biển ngày càng rõ nét. Thị trấn đã đầu tư xây dựng các tuyến đường rải nhựa theo trục dọc, ngang. Một số nhà nghỉ cao tầng cùng nhà nghỉ Công đoàn, khu nhà nghỉ của công nhân Dệt đã tạo thành một quần thể đón khách du lịch trong mùa hè. Nước biển Thịnh Long có độ mặn cao, bãi tắm thoải, sóng vỗ ì ầm suốt ngày đêm. Với những lợi thế sẵn có, Thịnh Long đã trở thành điểm hẹn của nhiều du khách trong và ngoài tỉnh. Mùa du lịch hè năm 2003, Thịnh Long có ngày đón hàng nghìn du khách từ thủ đô Hà Nội và các địa phương trong tỉnh. Khu du lịch biển Thịnh Long đang mở rộng, phát triển trong chiến lược khai thác kinh tế biển của tỉnh, chắc chắn sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà kinh tế trong và ngoài nước. 12. Khu bảo tồn quốc tế Ramsar Đây là bãi bồi ngập mặn, gồm Cồn Lu và Cồn Ngạn của huyện Giao Thuỷ. Khu vực này có nhiều bãi triều rộng, nhiều khu rừng xanh tốt. Tháng 1-1989, nơi đây đã được ghi nhận là điểm Ramsar quốc tế đầu tiên của khu vực Đông Nam á. Khu vực này được hình thành tự nhiên do phù sa sông Hồng đổ ra biển gặp dòng hải lưu dồn tụ chất màu của đất vào đây. Hạt của nhiều loại cây ngập mặn các châu lục bồng bềnh trên mặt biển theo sóng dạt vào. Gặp đất tốt, hạt nảy mầm nối nhau thành rừng ngập mặn và tự nó giữ lại những gì mà thiên nhiên ban tặng. Rừng ngập mặn ở đây gồm nhiều loại cây như: trang sú, bần, muồng biển, lau sậy... Các cây này tham gia chắn sóng tạo điều kiện cho hàng chục loại tảo, phù du phát triển. Kho thức ăn vô tận mà thiên nhiên ban tặng đã thu hút nhiều loài quý trong vùng sinh sôi nảy nở. Về thực vật, khu bảo tồn quốc tế Ramsar có khoảng 100 loài, trong đó có khoảng 20 loài thích ứng tốt với điều kiện ngập nước. Rừng ngập mặn có vai trò hết sức quan trọng, tạo dựng sinh cảnh, nơi nhân giống và dự trữ thức ăn phong phú cho nhiều loại động vật, đem lại lợi ích kinh tế đáng kể cho khu vực. Rừng ngập mặn thuộc Khu bảo tồn quốc tế Ramsar Ảnh: Đỗ Thị Lý Thực vật nổi tiếng có 57 giống, 111 loài, trong đó có nhiều loại rong có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là loài rong câu chỉ vàng dùng làm nguyên liệu chế biến agar xuất khẩu. Động vật bao gồm động vật nổi, động vật đáy và động vật rừng. Trong đó, động vật nổi có 104 loài, gồm 46 loài cá, 23 loài giáp xác. Động vật đáy có trên 200 loài, nhiều loài giun tơ và nhuyễn thể có giá trị kinh tế. Động vật rừng có hai lớp: chim và thú, các loài rái cá, cá heo, cá đầu ông sư, dơi, sóc, chuột đồng, đặc biệt là chim. Do đặc thù của vị trí địa sinh học ở một cửa sông lớn nhất miền Bắc, nơi đây được coi là sân ga của dòng chim di trú quốc tế khá phong phú. Lúc đông đúc lên tới ba, bốn chục ngàn cá thể với khoảng 200 loài chim, trong đó có gần 100 loài chim di trú, khoảng 50 loài chim nước, 9 loài chim được ghi trong Sách Đỏ quốc tế gồm: 02 loài bồ nông, 02 loài cò thìa, mòng bể đầu đen mỏ ngắn, cò trắng Trung Quốc, choi choi mỏ thìa, choắt đầu đốm và choắt chân màng lớn. Từ năm 1994, khu vực này đã được thế giới công nhận là khu bảo vệ theo Công ước quốc tế Ramsar đầu tiên ở Đông Nam á. Khu bảo tồn thiên nhiên Giao Thuỷ là điểm du lịch sinh thái và nghiên cứu môi trường có giá trị của Việt Nam và thế giới
__________________
Bắc Ḱ đa sĩ - Nam Định vi ưu |
|
|
![]() |
| Thread Tools | |
| Display Modes | Rate This Thread |
|
|