daily menu » rate the banner | guess the city | one on oneforums map | privacy policy | DMCA | news magazine | posting guidelines

Go Back   SkyscraperCity > Asian Forums > Vietnam Forum

Vietnam Forum Xin Chào! Welcome to Vietnam



Global Announcement

As a general reminder, please respect others and respect copyrights. Go here to familiarize yourself with our posting policy.


Reply

 
Thread Tools
Old June 15th, 2011, 11:10 AM   #1
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

LỊCH SỬ ĐÁNH NGOẠI XÂM CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM

Mời pà con từ Bắc chí Nam hăy từ bỏ định kiến, nêu cao tinh thần yêu nước đóng góp cho việc tuyên truyền giáo dụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta chống giặc ngoại xâm của các thời kỳ, nhất là thời kỳ chống Mông Nguyên... ( Lưu ư : chỉ tính ngang giai đoạn kết thúc Nhà Nguyễn để tránh căi cọ về chính trị mà các thớt trước đă lập !)

Mời các pác post bài và b́nh luận cho rôm rả !
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote

Sponsored Links
 
Old June 15th, 2011, 11:20 AM   #2
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt hay Kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông (tên gọi ở Việt Nam) của một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của quân và dân Đại Việt đầu thời Trần dưới thời các vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông trước sự tấn công của đế quốc Mông Cổ. Tuy thời gian của cuộc kháng chiến bắt đầu từ năm 1258 đến năm 1288, nhưng thời gian chiến sự chính thức chỉ tổng cộng bao gồm khoảng gần 9 tháng, chia làm 3 đợt. Trước, giữa và sau các đợt chiến sự là thời gian tiến hành tích cực các hoạt động ngoại giao. Kết quả, Đại Việt bảo vệ được nền độc lập của ḿnh, nhưng trên danh nghĩa phải chịu làm một xứ phụ thuộc vào đế quốc Mông Cổ. Thắng lợi quân sự của phía Đại Việt gắn liền với tên tuổi của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Lịch sử Việt Nam xem cuộc kháng chiến này là một trong những trang sử hào hùng nhất của ḿnh.

Khái quátNăm 1226, dưới sự sắp đặt của Trần Thủ Độ, nữ hoàng nhà Lư là Lư Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức là vua Trần Thái Tông. Nhà Trần chính thức thay nhà Lư.

Sau khi chính thức nắm quyền cai trị, nhà Trần ra sức củng cố nội chính và chấm dứt nạn cát cứ từ cuối thời Lư. Tới năm 1229, sau khi Nguyễn Nộn ốm chết, các lực lượng chống đối cơ bản bị dẹp.

Trong khi đó ở phương bắc, Trung Quốc từ lâu đă bị chia cắt. Nhà Tống phải rút xuống phía nam trước sự xâm lấn của nước Kim của người Nữ Chân. Phía tây bị nước Tây Hạ chia cắt. Tới đầu thế kỷ 13, người Mông Cổ ở phía bắc nước Kim thống nhất dưới quyền Thành Cát Tư Hăn, trở nên lớn mạnh. Mông Cổ đánh xuống phía nam, tiêu diệt Tây Hạ (1227) và Kim(1234). Mặc dù đă mở rộng bờ cơi bao la sang phía tây, diệt nhiều nước Tây Á và đánh sang châu Âu, người Mông Cổ tiếp tục tiến xuống phía nam để tiêu diệt Nam Tống.

Năm 1254, quân Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lư (Vân Nam ngày nay), muốn đánh chiếm Đại Việt để tạo thế "gọng ḱm" bao vây Nam Tống. Các đoàn ngoại giao của Mông Cổ được phái sang Đại Việt đề nghị mở đường cho quân đội Mông Cổ đi qua để lên đất Tống. Nhưng các vua Trần không những từ chối lại c̣n cho bắt giam các nhà ngoại giao Mông Cổ. Chiến tranh nổ ra vào năm 1258 khi Uriyangqatai cùng con trai là Aju đem 3 vạn quân Mông Cổ và 1,5 vạn quân Đại Lư tấn công Việt Nam. Quân Mông Cổ mau chóng giành được thắng lợi, chiếm được kinh đô Thăng Long, nhưng rồi cũng mau chóng bị quân Đại Việt đánh bật. Cuộc chiến năm 1258 chỉ diễn ra trong ṿng khoảng nửa tháng, cuối tháng 1 năm 1258.

Hai mươi năm sau, không cần đi đường qua Đại Việt, Mông Cổ vẫn đánh bại được nước Tống. Đế quốc Nguyên được thành lập trên lănh thổ Mông Cổ và Trung Quốc ngày nay. Đế quốc này t́m cách mở rộng lănh thổ của ḿnh ra phía Đông tới Nhật Bản, và xuống phía Nam. Để thực hiện ư đồ tiến xuống phía Nam, nhà Nguyên đă tiến hành chiến tranh với Chiêm Thành và Myanma trước. Nhưng quân và dân Chiêm Thành đă kháng chiến thắng lợi, khiến cho quân Nguyên không thực hiện được ư đồ lấy Chiêm Thành làm bàn đạp. Ở Myanma năm 1277, quân Mông Cổ cũng chịu những thiệt hại quân sự và phải rút lui. Đại Việt trở thành nơi phải bị khuất phục để quân Mông Cổ có thể tiếp tục chiến lược hướng Nam. Dưới chiêu bài đề nghị nhà Trần mở đường cho đại quân Nguyên đi qua chinh phạt Chiêm Thành, quân Nguyên t́m cách tấn công Đại Việt.
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:22 AM   #3
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

Lần thứ nhất Mông Cổ tấn công Đại Việt là vào tháng 1 năm 1258. Từ Đại Lư (nay là Vân Nam, Trung Quốc). Uriyangqadai dẫn quân Mông Cổ và Đại Lư dọc theo sông Hồng vào Đại Việt. Đích thân Trần Thái TôngTrần Thánh Tông dẫn quân lên nghênh địch tại B́nh Lệ Nguyên (nay là khoảng B́nh Xuyên, Vĩnh Phúc). Quân Mông Cổ dễ dàng đánh tan quân Đại Việt, nhưng đă không thành công trong việc bắt các vua Trần. Trận tiếp theo diễn ra tại Phù Lỗ (bên sông Cà Lồ). Quân Đại Việt lại bị đánh bại. Triều đ́nh nhà Trần phải sơ tán khỏi kinh đô. Quân Nguyên dù chiếm được Thăng Long, nhưng gặp phải khó khăn về lương thực.
Chỉ 10 ngày sau khi rút khỏi Thăng Long, hai vua Trần lại dẫn quân phản công, đánh thắng quân Mông Cổ trong trận Đông Bộ Đầu (nay là khoảng quận Ba Đ́nh, Hà Nội). Quân Mông Cổ lập tức bỏ thành Thăng Long rút lui về nước, cũng bằng con đường dọc theo sông Hồng. Trên đường rút lui, quân Mông Cổ đă bị lực lượng các dân tộc thiểu số miền núi Tây Bắc do Hà Bổng chỉ huy tập kích.
Toàn bộ cuộc chiến lần thứ nhất chỉ diễn ra trong ṿng khoảng nửa tháng, với chỉ khoảng 3-4 trận đánh lớn. Sau thất bại tại Đại Việt, quân Mông Cổ phải t́m đường khác để tấn công Tống từ phía Nam.


Bài chi tiết :
http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%..._l%E1%BA%A7n_1
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:24 AM   #4
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

27 năm sau, Hoàng đế nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt ra lệnh chinh phạt Đại Việt. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng 4 tháng từ cuối tháng Chạp năm Giáp Thân đến cuối tháng Tư năm Ất Dậu (cuối tháng 1 đến cuối tháng 5 năm 1285 dương lịch). Lần này, quân Nguyên chuẩn bị chiến tranh tốt hơn, huy động lực lượng lớn hơn. Ngoài lục quân từ phía Bắc tiến xuống, c̣n có thủy quân từ mặt trận Chiêm Thành ở phía Nam chuyển sang.
Cũng tương tự như lần thứ nhất, quân Nguyên mau chóng giành thắng lợi. Quân Đại Việt liên tục bị đánh bại ở các mặt trận Lạng Sơn, Sơn Động, Vạn Kiếp, Thu Vật (Yên B́nh), sông Đuống. Từ phía Bắc, chỉ khoảng 20 ngày sau khi vượt qua biên giới, quân Nguyên đă chiếm được thành Thăng Long. Triều đ́nh nhà Trần rút lui theo sông Hồng về Thiên Trường (Nam Định) và Trường Yên (Ninh B́nh), chịu sự truy kích ráo riết của quân Nguyên. Mọi nỗ lực phản kích của các vua Trần dọc theo sông Hồng đều bị quân Nguyên đánh bại. Từ phía Nam, Sogetu dẫn quân từ Chiêm Thành lên dễ dàng đánh tan quân Đại Việt tại vùng Nghệ An-Thanh Hóa. Bị ép cả trước lẫn sau, các vua Trần phải rút ra biển lên vùng Quảng Ninh, đợi đến khi cánh quân Nguyên phía Nam đi qua Thanh Hóa mới lui về Thanh Hóa.
Cũng giống như lần trước, quân Nguyên lại gặp khó khăn về lương thực. Trong khi đó, quân Đại Việt đă nhanh chóng chấn chỉnh đội ngũ. Khoảng gần 2 tháng sau khi rút về Thanh Hóa, Đại Việt phản công. Dọc theo sông Hồng, quân Đại Việt lần lượt giành thắng lợi tại cửa Hàm Tử (nay ở Khoái Châu, Hưng Yên), bến Chương Dương (nay ở Thượng Phúc, thuộc Thường Tín, Hà Nội), giải phóng Thăng Long.
Cánh quân phía Bắc của quân Nguyên trên đường rút chạy đă bị tập kích tại sông Cầu, tại Vạn Kiếp, Vĩnh B́nh. Cánh quân rút về Vân Nam bị tập kích tại Phù Ninh. Cánh quân phía Nam bị tiêu diệt hoàn toàn tại Tây Kết (Khoái Châu).


Bài chi tiết :

http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%..._l%E1%BA%A7n_2
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:24 AM   #5
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

Ngay sau khi bại trận về nước năm 1285, quân Nguyên chỉnh đốn quân ngũ, bổ sung lực lượng, đóng tàu chiến, huy động lương thực để trở lại đánh Đại Việt lần thứ ba. Cuộc chiến lần này kéo dài khoảng gần 4 tháng, từ cuối tháng 12 năm 1287 đến cuối tháng 4 năm 1288. Quân Nguyên chia làm 3 cánh vào Đại Việt từ Vân Nam, từ Quảng Tây và từ Quảng Đông (theo đường biển) vào Đại Việt.
Giống như 2 lần trước, quân Nguyên mau chóng đánh tan quân Đại Việt cả trên bộ lẫn trên biển, nhưng lại chịu một tổn thất quan trọng, đó là lương thực chuyên chở bằng tàu biển bị mất hết v́ bị các đơn vị của Trần Khánh Dư tấn công ở Vân Đồn, v́ băo biển, v́ đi lạc. Quân Nguyên tập trung ở Vạn Kiếp và đánh rộng ra xung quanh, chiếm được Thăng Long, nhưng lại bị đói giống như hai lần trước.
Khác với 2 lần trước, lần nay quân Đại Việt không huy động lực lượng lớn chặn đánh quân Nguyên từ đầu, mà chỉ đánh có tính ḱm chân. Bộ chỉ huy và phần lớn lực lượng Đại Việt rút về vùng Đồ Sơn, Hải Pḥng, từ đó tổ chức các cuộc tấn công vào căn cứ Vạn Kiếp và đánh thủy quân Nguyên.
V́ đói và có nguy cơ bị đối phương chia cắt, quân Nguyên bỏ Thăng Long rút về Vạn Kiếp, rồi chủ động rút lui dù quân Đại Việt chưa phản công lớn. Cánh thủy quân của Nguyên đă bị tiêu diệt hoàn toàn tại sông Bạch Đằng khi định rút ra biển. Các cánh lục quân Nguyên khi đi qua Bắc Giang và Lạng Sơn đă bị quân Đại Việt tấn công dữ dội.


Bài chi tiết :
http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%..._l%E1%BA%A7n_3
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:27 AM   #6
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Oh Thanks SGlove đă ủng hộ thread ! những bài viết qúy giá quá !
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:27 AM   #7
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

Nguyên nhân thắng lợiNguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lănh đạo. Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng.

C̣n một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, ṇng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quư nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài ḷng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi ḍng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn vơ. Thật hiếm ḍng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Thánh Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản....

Theo các nhà nghiên cứu, chiến thắng của nhà Trần có được nhờ vào sự sáng suốt của các tướng lĩnh trong chiến thuật, đứng đầu là Trần Hưng Đạo. Trong khi tác chiến, các tướng lĩnh nhà Trần chủ động tránh lực lượng hùng hậu người Mông mà đánh vào các đạo quân người Hán bị cưỡng bức theo quân Mông sang Đại Việt. Tâm lư của những người mất nước và phải chịu sự quản thúc của người Mông khiến các đạo quân này nhanh chóng tan ră, sức kháng cự thấp. Một cánh quân tan ră có tác động tâm lư lớn tới các đạo quân c̣n lại trên toàn mặt trận.

Mông-Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Nam Dương đều có biển cả ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân, lại gặp băo to (Thần phong) nên mới bị thua trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Đông Á, chung đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được. Một đế quốc đă nằm trùm cả đại lục Á - Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam. Tổng cộng 3 đợt xuất quân, Mông-Nguyên huy động hơn 60 vạn lượt quân, trong khi dân số Đại Việt khi ấy chưa đầy 4 triệu. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lư với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông-Nguyên của nhà Trần.

Theo giáo sư Đào Duy Anh th́ có 3 nhược điểm khiến quân Mông Nguyên thất bại ở Đại Việt:

1.Người Mông Cổ đi đánh xa, chỉ mong cướp bóc nuôi quân, nếu không được th́ dễ bị khốn v́ thiếu lương.
2.Quân Mông Nguyên là người phương bắc, không hợp thuỷ thổ.
3.Đại đa số quân lính là người Trung Hoa bị chinh phục, tinh thần chiến đấu không có, gặp khó khăn là chán nản.

Theo wikipedia.
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:33 AM   #8
saigonlove
Fish. Love Fish.
 
saigonlove's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Saigon
Posts: 2,991
Likes (Received): 1

Quote:
Originally Posted by Ancient capital View Post
Oh Thanks SGlove đă ủng hộ thread ! những bài viết qúy giá quá !
Của wiki mừ. Cái này phải mời mọi người ḿnh luận thêm.
Riêng cá nhân em th́ thấy cho dù quân đội mạnh đến đâu đánh nước Việt ḿnh th́ với mưu lược cũng như tinh thần không bao giờ khuất phục, kiên tŕ đánh th́ cho dù quân địch có chiếm được tạm thời rồi cũng phải chạy về nước. Lối đánh du kích, mai phục chặn đánh vẫn là chủ đạo. Có thời cơ th́ ta đánh lớn.
...
Trận Bạch Đằng năm 1288 xảy ra trên sông Bạch Đằng thuộc đất Đại Việt, đây là một trận đánh lớn quan trọng thuộc một trong các cuộc Kháng chiến chống Nguyên Mông trong lịch sử Việt Nam.
Kế hoạch rút quân của quân NguyênTrước t́nh h́nh bất lợi, quân Nguyên định tổ chức rút về Trung Quốc theo nhiều hướng khác nhau. Ngày 3 tháng 3 năm Mậu Tí (1288), Hữu thừa Tŕnh Bằng Phi, Thiên tỉnh Đạt Mộc thống lĩnh kị binh đi đón các cánh quân di chuyển bằng đường thủy (đoàn thuyền của Trương Văn Hổ). Tuy nhiên khi qua chợ Đông-Hồ th́ bị ḍng sông chắn ngang, phải quay lại, nhưng cầu cống đă bị quân nhà Trần bám theo sau phá hủy. Quân Nguyên rơi vào thế nguy, trước mặt th́ bị quân Trần chận đường, sau lưng là chướng ngại thiên nhiên. Tuy nhiên quân Nguyên do tra hỏi những tù binh nên đă t́m được đường thoát, nửa đêm hôm đó cánh quân này đột phá ṿng vây chạy trốn theo con đường khác, phối hợp với một cánh quân Nguyên đang rút lui để cùng nhau ra khỏi ải Nội Bàng. Tuy bị bất ngờ bởi sự thay đổi lộ tŕnh của quân Nguyên, quân đội nhà Trần đuổi theo đánh rất sát vào cánh quân đoạn hậu. Tướng Nguyên là Vạn hộ Đáp Thứ Xích và Lưu Thế Anh phải dẫn quân quay trở lại phía sau đối phó với quân Trần, sau một trận giao chiến bắt được và giết các tướng Trần chỉ huy toán quân tập kích là các tướng Phạm Trù và Nguyễn Kị.

Ngày 7 tháng 3 năm 1288, cánh quân Mông Cổ rút bằng đường thủy đi tới Trúc Động, tại đây họ bị quân nhà Trần chặn đánh, nhưng tướng Nguyên là Lư Khuê chỉ huy quân này đánh lui quân nhà Trần và chiếm được 20 thuyền chiến.

Ngày 8 tháng 3 năm 1288, Ô Mă Nhi không cho quân rút về bằng đường biển mà đi theo sông Bạch Đằng, v́ tính rằng đường biển đă bị thủy quân nhà Trần vây chặt th́ pḥng bị đường sông có thể sơ hở, hơn nữa sông Bạch Đằng nối liền với nội địa Trung Quốc bằng thủy lộ, thuận lợi cho việc rút lui.



Bố trí quân TrầnNăm 1288, sau khi di tản khỏi kinh đô Thăng Long, Trần Hưng Đạo đă quyết định đánh một trận lớn chống quân Mông Cổ xâm lược đi vào Đại Việt thông qua sông Bạch Đằng. Sông Bạch Đằng trước đó cũng là một địa danh lịch sử khi Ngô Quyền đă từng đánh thắng quân Nam Hán trong năm 938, kết thúc gần 1000 năm Bắc thuộc. Trần Hưng Đạo đă nghiên cứu kỹ lưỡng quy luật thủy triều của con sông này để vạch ra thế trận cọc để mai phục quân Mông Nguyên

Trần Hưng Đạo chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông Bạch Đằng, là nơi đoàn thuyền của quân Nguyên sẽ phải đi qua trên đường rút chạy. Các loại gỗ lim, gỗ táu đă được đốn ngă trên rừng kéo về bờ sông và được đẽo nhọn cắm xuống ḷng sông ở các cửa dẫn ra biển như sông Rút, sông Chanh, sông Kênh làm thành những băi chông ngầm lớn, kín đáo dưới mặt nước. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm nằm bắt ngang qua sông Bạch Đằng nhưng phía dưới sông Chanh, đầu sông Kênh, có thể sử dụng làm nơi mai phục quân lính phối hợp với băi chông ngầm nhằm ngăn chận thuyền địch khi nước rút xuống thấp. Thủy quân Đại Việt bí mật mai phục phía sau Ghềnh Cốc, Đồng Cốc, Phong Cốc, sông Khoái, sông Thái, sông Gia Đước, Điền Công, c̣n bộ binh bố trí ở Yên Hưng, dọc theo bờ bên trái sông Bạch Đằng, Tràng Kênh ở bờ bên phải sông Bạch Đằng, núi Đá Vôi ..., ngoại trừ sông Đá Bạc là để trống cho quân Nguyên kéo vào. Đại quân của hai vua đóng quân ở Hiệp Môn (Kinh Môn, Hải Dương) trong tư thế sẵn sàng lâm trận cho chiến trường quyết liệt sắp xảy ra.



Diễn biến trận đánhKhi Ô Mă Nhi dẫn đoàn thuyền tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua chạy vào sâu bên trong. Ô Mă Nhi trúng kế khích tướng nên thúc quân ra nghinh chiến, các tướng Phàn Tham Chính, Hoạch Phong cũng ra tiếp ứng. Khi thuyền quân Nguyên đă vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tướng Nguyễn Khoái dẫn các quân Thánh Dực ra khiêu chiến và nhử quân Nguyên tiến sâu vào khúc sông đă đóng cọc, trong khi quân Trần đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội h́nh địch.

Thủy quân Đại Việt từ Hải Đông - Vân Trà từ các phía Điền Công, Gia Đước, sông Thái, sông Giá nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền cùng quân lính các lộ dàn ra trên sông và dựa vào Ghềnh Cốc thành một dải thuyền chặn đầu thuyền địch ngang trên sông. Trong lúc thủy chiến đang diễn ra dữ dội th́ đoàn chiến thuyền của hai vua Trần đóng ở vùng Hiệp Sơn (Kinh Môn, Hải Dương) bên bờ sông Giáp (sông Kinh Thần, vùng Kinh Môn, Hải Dương) làm nhiệm vụ đánh cầm chừng và cản bước tiến của địch, cũng tấn công từ phía sau khiến quân Nguyên càng lúng túng và tổn thất rất nặng. Bị tấn công tới tấp trên sông, một số cánh quân Nguyên bỏ thuyền chạy lên bờ sông bên trái của Yên Hưng để t́m đường trốn thoát, nhưng vừa lên tới bờ họ lại rơi vào ổ phục kích của quân Trần, bị chặn đánh kịch liệt. Trời về chiều khi giao tranh sắp kết thúc, Ô Mă Nhi cùng với binh lính dưới quyền chống cự tuyệt vọng trước sự tấn công của quân Trần, v́ quân Nguyên của Thoát Hoan không tới cứu viện, nên đạo quân này hoàn toàn bị quân Trần tiêu diệt. Theo Nguyên sử, truyện của Phàn Tiếp chép rằng kịch chiến xảy ra từ giờ măo đến giờ dậu, tức là từ sáng kéo dài đến chiều tối mới kết thúc. Nguyên Sử có chép về tướng Nguyên Phàn Tiếp: "Tiếp cùng Ô Mă Nhi đem quân thủy trở về, bị giặc đón chặn. Triều sông Bạch Đằng xuống, thuyền Tiếp mắc cạn. Thuyền giặc dồn về nhiều, tên bắn như mưa. Tiếp hết sức đánh từ giờ măo đến giờ dậu. Tiếp bị súng bắn, rớt xuống nước. Giặc móc lên bắt, dùng thuốc độc giết". Sông Bạch Đằng nước ṛng, tức nước lớn rất nhanh mà nước rút cũng mạnh, nên khi nước rút thuyền của quân Nguyên bị cọc gỗ đâm trúng, lật đỗ, quân Nguyên chết đuối hoặc bị giết vô số.

Kết cụcQuân nhà Trần đại thắng, bắt được hơn 400 chiến thuyền, tướng Đỗ Hành bắt được tướng nguyên là Tích Lệ Cơ và Ô Mă Nhi dâng lên Thượng hoàng Trần Thánh Tông, tướng Nguyên là Phàn Tiếp bị bắt sống, rồi bị bệnh chết. Cánh thủy quân của quân Nguyên hoàn toàn bị tiêu diệt.

http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%B...%BA%B1ng,_1288
.....

P/s : Quân Ngô Quyền đă đánh bại quân NAm Hán trên Bạch Đằng và quân Trần cũng đánh bại Mông NGuyên bằng lối dụ địch vào băi cọc và đánh. Có câu ǵ "Bắc mă Nam giang", thiệt quân phương bắc quá liều khi đánh phương Nam bằng đường sông.
__________________
Fatherland - Honour - Responsibility
Sài G̣n.
http://www.youtube.com/watch?v=ONjS4EHdjeA
saigonlove no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:36 AM   #9
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Dạy chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa cho trẻ vỡ ḷng từ thời Tự Đức


10:17 | 10/06/2011

TP - Từ năm Tự Đức thứ sáu (1853) đă có sách dạy trẻ em học vỡ ḷng, trong đó khẳng định chủ quyền quần đảo Hoàng Sa của nước ta - Anh Trần Văn Quyến, giảng viên khoa Xă hội-Nhân văn (ĐH Phú Xuân - Huế), chuyên nghiên cứu về quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định.


Bản quốc địa đồ có Hoàng Sa Chử (phần trong ô vuông).

Theo anh Quyến, sách Khải đồng thuyết ước bằng chữ Hán gồm 2 quyển: thượng, hạ do tác giả Phạm Vọng (hiệu Trúc Đường), Ngô Thế Vinh (hiệu Khúc Giang) biên soạn và Dương Đ́nh (1802 - 1856) quê xă Bái Dương, huyện Nam Chân (nay là huyện Nam Trực, Nam Định) nhuận sắc. Tác giả Phạm Vọng, tự Phục Trai, hiệu Kim Giang, người làng Kim Đô, huyện Vơ Giàng, tỉnh Bắc Ninh, đậu Cử nhân năm Thiệu Trị Tân Sửu (1841). Sách in trên ván gỗ, giấy bản thường, gồm 44 tờ, mỗi tờ 2 trang, mỗi trang có 6 ḍng, mỗi ḍng 16 chữ, khắc to rơ ràng, viết theo lối văn tứ tự có vần, mỗi câu có 4 chữ, 4 câu hai vần, các thanh bằng, trắc thay đổi nhịp nhàng, nhằm giúp người mới học đọc thuận miệng, dễ học thuộc ḷng...

Khải đồng thuyết ước dạy sử Việt Nam, sản vật, các kiến thức về xă hội (nhân sự, niên hiệu nước Việt Nam qua các đời); thiên nhiên (thiên văn, địa lư); cách tu dưỡng bản thân, có h́nh vẽ bản đồ Việt Nam, mặt trời, mặt trăng, thân thể con người, bí quyết về việc xem vận số...

Đặc biệt, trong các trang 15–16 có vẽ Bản quốc địa đồ (Bản đồ nước ta) với phần khẳng định rơ ràng Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trên bản đồ ghi vị trí các tỉnh và các ngọn núi lớn, từ cửa Nam Quan đến Biên Ḥa, Vĩnh Long. Sau đó là những ghi chú số phủ, huyện, tổng, xă, phường, ấp, giáp, của từng tỉnh. Phần ngoài biển, đối diện địa phận Thừa Thiên và Quảng Nam trong bản đồ có ghi chú về quần đảo Hoàng Sa với ba chữ: Hoàng Sa Chử, nghĩa là Băi (hay quần đảo) Hoàng Sa.

Khải đồng thuyết ước được khắc nhiều lần qua các triều vua. V́ thế, trong nhiều gia đ́nh và các kho tư liệu vẫn c̣n cuốn sách này. Viện nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện quốc gia đều lưu giữ Khải đồng thuyết ước là sách được sử dụng trong các trường học của nước ta ngay từ đầu đời Tự Đức cũng như sách giáo khoa ngày nay, với ghi chú về quần đảo Hoàng Sa cho thấy ư thức chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa đă được xác nhận vững chắc. Bản quốc địa đồ thêm một chứng cứ về chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa dưới triều Nguyễn.

Thêm tư liệu mới về chủ quyền “dải Trường Sa”

Mới đây anh Quyến công bố sử liệu Nam Hà tiệp lục (tác giả Lê Đản, 1742 - ?), góp thêm một tư liệu mới về chủ quyền dải Trường Sa (Băi Cát Vàng) và đội Hoàng Sa. Nam Hà tiệp lục được Lê Đản hoàn thành năm 1811. Đây là bộ sách có giá trị, ghi chép về lịch sử, văn hóa và phong tục tập quán của Đàng Trong. Sách tuy gọn nhưng có nhiều tài liệu mới. Khi nghiên cứu về Đàng Trong thời các chúa Nguyễn, từ Gia Long về trước, có thể dùng sách này làm tài liệu tham khảo quư giá cùng với các sách: Ô Châu cận lục của Dương Văn An; Phủ biên tạp lục của Lê Quư Đôn; Nam Hà kư văn của Đặng Trọng An; Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức...

Trong đó, những ghi chép về Hoàng Sa, Trường Sa và Đội Hoàng Sa nằm ở phần Tài Lợi, Sơn xuyên h́nh thắng và Phong vực trong sách bao gồm 3 đoạn. Cụ thể, đoạn 1 (thuộc quyển 2, phần Tài Lợi) phiên âm Đại Chiêm hải môn, hải trung hữu trường sa, danh Băi Cát Vàng. Tự Đại Chiêm hải môn chí Trường Sa ước ngũ lục bách lư, khoát tam tứ thập lư, trác lập hải trung Tây Nam phong tắc chư quốc thuyền tao phiêu bạc tại thử. Đông Bắc phong ngoại việt diệc phiêu bạc tại thử, tịnh giai ngạ tử, tài hoá đôi tích. Mỗi niên quư đông tương thuyền thập bát chích tác thủ. Nhất vân tứ nguyệt văng thất nguyệt hồi. Thử xứ sản đại mạo - (Cửa biển Đại Chiêm, giữa biển có dải Trường Sa gọi là Băi Cát Vàng. Từ cửa biển Đại Chiêm đến Trường Sa chừng năm sáu trăm dặm, rộng chừng ba bốn mươi dặm, đứng giữa biển. Mùa gió tây nam th́ tàu bè các nước phiêu bạt vào đó. Đến mùa gió đông bắc từ ngoài vào cũng phiêu bạt vào đây, đều bị chết đói, của cải được tích tụ ở đây. Hằng năm đến cuối đông 18 chiếc thuyền được đưa ra đây để nhặt lấy những của cải ấy. Có chỗ nói tháng 4 đi tháng 7 về. Nơi đây cũng sản sinh nhiều đồi mồi).


Giảng viên Trần Văn Quyến Ảnh: Nguyễn Huy .

Tại đoạn 2, quyển 3, phần Sơn xuyên h́nh thể ghi rơ: Đại Chiêm hải môn, hải trung hữu Trường Sa Châu, danh băi Cát Vàng. Tự Chiêm môn chí Sa châu ước ngũ lục bách lư, khoát tam tứ thập lư, trác lập hải trung - (Cửa Đại Chiêm, giữa biển có cồn nổi Trường Sa, tên là Băi Cát Vàng. Từ cửa Đại Chiêm đến Sa Châu (Hoàng Sa) ước chừng năm sáu trăm dặm. Sa Châu rộng chừng ba bốn mươi dặm, nổi lên giữa biển...).

Trong lời bạt, tác giả Lê Đản viết: “Nghe thấy nói trong cùng quận (tỉnh) tôi, các nhà họ Lê [tức Lê Quư Đôn (1726-1784)] ở Diên Hà, họ Uông [tức Uông Sĩ Lăng (1733 - 1802)] ở Vũ Nghị, nhà th́ đời trước có sách Phủ biên tạp lục, nhà th́ có sách Nam hành tiểu kư, tôi cũng chưa kịp hỏi mượn mà xem”, tức là tác giả không được tham khảo các sách có viết về Hoàng Sa trước đó. Tuy nhiên khi đọc Phủ biên tạp lục của Lê Quư Đôn hay phần Dư địa chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú đều thấy có những khảo tả tương tự về Hoàng Sa và hoạt động của đội Hoàng Sa như trong Nam Hà tiệp lục. Các sách trên tuy không tham khảo nhau nhưng những ghi chép về Hoàng Sa và đội Hoàng Sa là tương đối thống nhất, cho thấy những hiểu biết về Hoàng Sa đến cuối thế kỷ XVIII đă rất phổ biến.

Rơ ràng, cùng với các sử liệu trước đó của Việt Nam và cả Trung Quốc, như: Toản tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư (của Đỗ Bá, 1687), Hải Ngoại kỷ sự (ḥa thượng Thích Đại Sán, Triết Giang - Trung Quốc, 1696), Phủ biên tạp lục (1776)..., Nam Hà tiệp lục góp thêm tư liệu mới về hoạt động thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và đội Hoàng Sa.

Phát hiện sách giáo khoa có Hoàng Sa Chử như Khải đồng thuyết ước th́ đây là công tŕnh nghiên cứu đầu tiên và mới nhất. Cho thấy ư thức chủ quyền biển đảo luôn được giáo dục, phát huy từ trước đến nay - TS Trần Đức Anh Sơn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu KT-XH TP Đà Nẵng

http://www.tienphong.vn/Phong-Su/541...oi-Tu-Duc.html
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 11:59 AM   #10
charming.namdinh
Mr. Hoàng
 
charming.namdinh's Avatar
 
Join Date: Oct 2010
Location: Thành Nam
Posts: 8,303
Likes (Received): 874

Việc nhà Trần 3 lần đánh thắng quân Nguyên-Mông là chiến công vang dội nhất trong lịch sử và quân sử Việt Nam, và người làm nên đại thắng chính là Trần Hưng Đạo - người được tôn phong làm vị Thánh của dân tộc Việt. Trần Hưng Đạo chính là niềm tự hào của non sông.

Bản văn Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo như một bản hùng ca thổi bừng hào khí Đông A vang dội khắp non sông vẫn c̣n đó, được bao thế hệ người Việt tiếp thu và lĩnh hội ư chí quật cường của cha ông.

諭諸裨將檄文

余常聞之
紀信以身代死而脫高帝
由于以背受戈而蔽招王
蓣讓吞炭而復主讎
申蒯断臂而赴國難
敬德一小生也身翼太宗而得免世充之圍
杲卿一遠臣也口罵禄山而不從逆賊之計
自古忠臣義士以身死國何代無之
設使數子區區為兒女子之態
徒死牖下烏能名垂竹白
與天地相為不朽哉
汝等
世為將種不曉文義
其聞其說疑信相半
古先之事姑置勿論
今余以宋韃之事言之
王公堅何人也
其裨將阮文立又何人也
以釣魚鎖鎖斗大之城
當蒙哥堂堂百萬之鋒
使宋之生靈至今受賜
骨待兀郎何人也
其裨將赤脩思又何人也
冒瘴厲於萬里之途
獗南詔於數旬之頃
使韃之君長至今留名
況余與汝等生於擾攘之秋
長於艱難之勢
竊見偽使往來道途旁午
掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷
委犬羊之尺軀而倨傲宰祔
托忽必列之令而索玉帛以事無已之誅求
假雲南王之號而揫金銀以竭有限之傥庫
譬猶以肉投餒虎寧能免遺後患也哉
余常
臨餐忘食中夜撫枕
涕泗交痍心腹如搗
常以未能食肉寢皮絮肝飲血為恨也

余之百身高於草野
余之千屍裹於馬革
亦願為之
汝等
久居門下掌握兵權
無衣者則衣之以衣
無食者則食之以食
官卑者則遷其爵
祿薄者則給其俸
水行給舟陸行給馬
委之以兵則生死同其所為
進之在寢則笑語同其所樂
其是
公堅之為偏裨兀郎之為副貳亦未下爾
汝等
坐視主辱曾不為憂
身當國恥曾不為愧
為邦國之將侍立夷宿而無忿心
聽太常之樂宴饗偽使而無怒色
或鬥雞以為樂或賭博以為娛
或事田園以養其家
或戀妻子以私於己
修生產之業而忘軍國之務
恣田獵之遊而怠攻守之習
或甘美酒或嗜淫聲
脱有蒙韃之寇來
雄雞之距不足以穿虜甲
賭博之術不足以施軍謀
田園之富不足以贖千金之軀
妻拏之累不足以充軍國之用
生產之多不足以購虜首
獵犬之力不足以驅賊眾
美酒不足以沈虜軍
淫聲不足以聾虜耳
當此之時我家臣主就縛甚可痛哉
不唯余之采邑被削
而汝等之俸祿亦為他人之所有
不唯余之家小被驅
而汝等之妻拏亦為他人之所虜
不唯余之祖宗社稷為他人之所踐侵
而汝等之父母墳墓亦為他人之所發掘
不唯余之今生受辱雖百世之下臭名難洗惡謚長存
而汝等之家清亦不免名為敗將矣
當此之時汝等雖欲肆其娛樂
得乎
今余明告汝等
當以措火積薪為危
當以懲羹吹虀為戒
訓練士卒習爾弓矢
使
人人逄蒙家家后羿
購必烈之頭於闕下
朽雲南之肉於杲街
不唯余之采邑永為青氈
而汝等之俸祿亦終身之受賜
不唯余之家小安床褥
而汝等之妻拏亦百年之佳老
不唯余之宗廟萬世享祀
而汝等之祖父亦春秋之血食
不唯余之今生得志
而汝等百世之下芳名不朽
不唯余之美謚永垂
而汝等之姓名亦遺芳於青史矣
當此之時汝等雖欲不為娛樂
得乎
今余歷選諸家兵法為一書名曰兵書要略
汝等
或能專習是書受余教誨是夙世之臣主也
或暴棄是書違余教誨是夙世之仇讎也
何則
蒙韃乃不共戴天之讎
汝等記恬然不以雪恥為念不以除凶為心
而又不教士卒是倒戈迎降空拳受敵
使平虜之後萬世遺羞
上有何面目立於天地覆載之間耶
故欲汝等明知余心因筆以檄云


Dụ chư tỳ tướng hịch văn

Dư thường văn chi:
Kỷ Tín dĩ thân đại tử nhi thoát Cao Đế;
Do Vu dĩ bối thụ qua nhi tế Chiêu Vương.
Dự Nhượng thốn thán nhi phục chủ thù;
Thân Khoái đoạn tí nhi phó quốc nạn.
Kính Đức nhất tiểu sinh dă, thân dực Thái Tông nhi đắc miễn Thế Sung chi vi;
Cảo Khanh nhất viễn thần dă, khẩu mạ Lộc Sơn nhi bất ṭng nghịch tặc chi kế.
Tự cổ trung thần nghĩa sĩ, dĩ thân tử quốc hà đại vô chi?
Thiết sử sổ tử khu khu vi nhi nữ tử chi thái,
Đồ tử dũ hạ, ô năng danh thùy trúc bạch,
Dữ thiên địa tương vi bất hủ tai!
Nhữ đẳng
Thế vi tướng chủng, bất hiểu văn nghĩa,
Kỳ văn kỳ thuyết, nghi tín tương bán.
Cổ tiên chi sự cô trí vật luận.
Kim dư dĩ Tống, Thát chi sự ngôn chi:
Vương Công Kiên hà nhân dă?
Kỳ tỳ tướng Nguyễn Văn Lập hựu hà nhân dă?
Dĩ Điếu Ngư tỏa tỏa đẩu đại chi thành,
Đương Mông Kha đường đường bách vạn chi phong,
Sử Tống chi sinh linh chí kim thụ tứ!
Cốt Đăi Ngột Lang hà nhân dă?
Kỳ tỳ tướng Xích Tu Tư hựu hà nhân dă?
Mạo chướng lệ ư vạn lư chi đồ,
Quệ Nam Chiếu ư sổ tuần chi khoảnh,
Sử Thát chi quân trưởng chí kim lưu danh!
Huống dư dữ nhữ đẳng, Sinh ư nhiễu nhương chi thu;
Trưởng ư gian nan chi tế.
Thiết kiến ngụy sứ văng lai, đạo đồ bàng ngọ.
Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đ́nh;
Ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ.
Thác Hốt Tất Liệt chi lệnh nhi sách ngọc bạch, dĩ sự vô dĩ chi tru cầu;
Giả Vân Nam Vương chi hiệu nhi khu kim ngân, dĩ kiệt hữu hạn chi thảng hố.
Thí do dĩ nhục đầu nỗi hổ, ninh năng miễn di hậu hoạn dă tai?
Dư thường
Lâm xan vong thực, Trung dạ phủ chẩm,
Thế tứ giao di, Tâm phúc như đảo.
Thường dĩ vị năng thực nhục tẩm b́, nhứ can ẩm huyết vi hận dă.
Tuy
Dư chi bách thân, cao ư thảo dă;
Dư chi thiên thi, khỏa ư mă cách,
Diệc nguyện vi chi.
Nhữ đẳng
Cửu cư môn hạ, Chưởng ác binh quyền.
Vô y giả tắc ư chi dĩ y;
Vô thực giả tắc tự chi dĩ thực.
Quan ti giả tắc thiên kỳ tước;
Lộc bạc giả tắc cấp kỳ bổng.
Thủy hành cấp chu; Lục hành cấp mă.
Ủy chi dĩ binh, tắc sinh tử đồng kỳ sở vi;
Tiến chi tại tẩm, tắc tiếu ngữ đồng kỳ sở lạc.
Kỳ thị
Công Kiên chi vi thiên t́, Ngột Lang chi vi phó nhị, Diệc vị hạ nhĩ.
Nhữ đẳng
Tọa thị chủ nhục, tằng bất vi ưu;
Thân đương quốc sỉ, tằng bất vi quư.
Vi bang quốc chi tướng, thị lập di tú nhi vô phẫn tâm;
Thính thái thường chi nhạc, yến hưởng ngụy sứ nhi vô nộ sắc.
Hoặc đấu kê dĩ vi lạc; Hoặc đổ bác dĩ vi ngu.
Hoặc sự điền viên dĩ dưỡng kỳ gia;
Hoặc luyến thê tử dĩ tư ư kỷ.
Tu sinh sản chi nghiệp, nhi vong quân quốc chi vụ;
Tứ điền liệp chi du, nhi đăi công thủ chi tập.
Hoặc cam mỹ tửu; Hoặc thị dâm thanh.
Thoát hữu Mông Thát chi khấu lai,
Hùng kê chi cự, bất túc dĩ xuyên lỗ giáp;
Đổ bác chi thuật, bất túc dĩ thi quân mưu.
Điền viên chi phú, bất túc dĩ thục thiên kim chi khu;
Thê noa chi lụy, bất túc dĩ sung quân quốc chi dụng.
Sinh sản chi đa, bất túc dĩ cấu lỗ thủ;
Liệp khuyển chi lực, bất túc dĩ khu tặc chúng.
Mỹ tửu bất túc dĩ trấm lỗ quân;
Dâm thanh bất túc dĩ lung lỗ nhĩ.
Đương thử chi thời, Ngă gia thần chủ tựu phọc, Thậm khả thống tai!
Bất duy dư chi thái ấp bị tước,
Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc vi tha nhân chi sở hữu;
Bất duy dư chi gia tiểu bị khu,
Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc vi tha nhân chi sở lỗ;
Bất duy dư chi tổ tông xă tắc, vi tha nhân chi sở tiễn xâm,
Nhi nhữ đẳng chi phụ mẫu phần mộ, diệc vi tha nhân chi sở phát quật;
Bất duy dư chi kim sinh thụ nhục, tuy bách thế chi hạ, xú danh nan tẩy, ác thụy trường tồn,
Nhi nhữ đẳng chi gia thanh, diệc bất miễn danh vi bại tướng hĩ!
Đương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục tứ kỳ ngu lạc,
Đắc hồ?
Kim dư minh cáo nhữ đẳng,
Đương dĩ thố hỏa tích tân vi nguy;
Đương dĩ trừng canh xuy tê vi giới.
Huấn luyện sĩ tốt; Tập nhĩ cung thỉ.
Sử
Nhân nhân Bàng Mông; Gia gia Hậu Nghệ.
Cưu Tất Liệt chi đầu ư khuyết hạ;
Hủ Vân Nam chi nhục ư cảo nhai.
Bất duy dư chi thái ấp vĩnh vi thanh chiên,
Nhi nhữ đẳng chi bổng lộc diệc chung thân chi thụ tứ;
Bất duy dư chi gia tiểu đắc an sàng nhục,
Nhi nhữ đẳng chi thê noa diệc bách niên chi giai lăo;
Bất duy dư chi tông miếu vạn thế hưởng tự,
Nhi nhữ đẳng chi tổ phụ diệc xuân thu chi huyết thực;
Bất duy dư chi kim sinh đắc chí,
Nhi nhữ đẳng bách thế chi hạ, phương danh bất hủ;
Bất duy dư chi mỹ thụy vĩnh thùy,
Nhi nhữ đẳng chi tính danh diệc di phương ư thanh sử hĩ.
Đương thử chi thời, Nhữ đẳng tuy dục bất vi ngu lạc,
Đắc hồ!
Kim dư lịch tuyển chư gia binh pháp vi nhất thư, danh viết Binh thư yếu lược.
Nhữ đẳng
Hoặc năng chuyên tập thị thư, thụ dư giáo hối, thị túc thế chi thần chủ dă;
Hoặc bạo khí thị thư, vi dư giáo hối, thị túc thế chi cừu thù dă.
Hà tắc?
Mông Thát năi bất cộng đái thiên chi thù,
Nhữ đẳng kư điềm nhiên, bất dĩ tuyết sỉ vi niệm, bất dĩ trừ hung vi tâm,
Nhi hựu bất giáo sĩ tốt, thị đảo qua nghênh hàng, không quyền thụ địch;
Sử b́nh lỗ chi hậu, vạn thế di tu,
Thượng hữu hà diện mục lập ư thiên địa phú tái chi gian da?
Cố dục nhữ đẳng minh tri dư tâm, Nhân bút dĩ hịch vân.



Hịch tướng sĩ

Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy ḿnh đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan c̣n nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát ṿng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch-tặc. Các bậc trung-thần nghĩa-sĩ ngày xưa, bỏ ḿnh v́ nước, đời nào không có? Giả-sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường t́nh, chết già ở xó nhà th́ sao cho lưu danh sử-sách đến ngh́n muôn đời như thế được?

Nay các ngươi vốn ḍng vũ-tướng, không hiểu văn-nghĩa, nghe những chuyện cổ-tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm ǵ nữa; ta hăy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ-tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư[1] nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha[2] kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay c̣n đội ơn sâu. Đường ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ-tướng của Đường ngột Ngại là Xích tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam-chướng xa xôi, đánh được quân Nam-chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân-trướng đời Nguyên đến nay c̣n lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu-nhương, gặp phải buổi gian-nan này, trông thấy những ngụy-sứ đi lại rầm-rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ-mắng triều-đ́nh, đem thân dê chó mà bắt-nạt tổ-phụ, lại cậy thế Hốt tất Liệt 忽 必 烈 mà đ̣i ngọc-lụa, ỷ thế Vân-nam-vương[3] để vét bạc vàng; của kho có hạn, ḷng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai-vạ về sau!

Ta đây, ngày th́ quên ăn, đêm th́ quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đ́a, chỉ căm-tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, th́ cũng đành ḷng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh-quyền, cũng đă lâu ngày, không có áo th́ ta cho áo, không có ăn th́ ta cho ăn, quan c̣n nhỏ th́ ta thăng thưởng, lương có ít th́ ta tăng cấp, đi thủy th́ ta cho thuyền, đi bộ th́ ta cho ngựa, lúc hoạn-nạn th́ cùng nhau sống chết, lúc nhàn-hạ th́ cùng nhau vui cười, những cách cư-xử so với Vương công Kiên, Đường ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém ǵ.

Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc-sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui-đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu-khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến-luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn-bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, th́ cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo-giáp; mẹo cờ-bạc sao cho dùng nổi được quân-mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy ngh́n vàng khôn chuộc; vả lại vợ b́u con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền-của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy th́ địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không c̣n, mà bổng-lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia-quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hăy c̣n măi măi; mà gia-thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui-vẻ, phỏng có được hay không?

Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn-thận như nơi củi lửa, nên giữ-ǵn như kẻ húp canh, dạy-bảo quân-sĩ, luyện-tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, th́ mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công-danh. Chẳng những là thái-ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng-lộc; chẳng những là gia-quyến của ta được yên-ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên-nhân ta được vẻ-vang, mà các ngươi cũng được phụng-thờ tổ-phụ, trăm năm vinh-hiển; chẳng những là một ḿnh ta được sung-sướng, mà các ngươi cũng được lưu-truyền sử sách, ngh́n đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui-vẻ, cũng tự khắc được vui-vẻ.

Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là « Binh-thư yếu-lược ». Nếu các ngươi biết chuyên-tập sách này, theo lời dạy-bảo, th́ mới phải đạo thần-tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy-bảo, th́ tức là kẻ nghịch-thù.

Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân-sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận B́nh-lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, th́ c̣n mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.



Chú thích cuối trang

1. ▲ Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng-khánh tỉnh Tứ xuyên.
2. ▲ Mông-kha (Mungke) là vua Mông-cổ, anh Hốt tất Liệt.
3. ▲ Khi quân Mông-cổ lấy được đất Vân nam rồi, Hốt tất Liệt phong cho con là Hốt kha Kích là Vân-nam-vương.
4. ▲ B́nh-lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rơ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trăi, th́ đời nhà Lư có đào con sông B́nh-lỗ để đi lên Thái-nguyên cho tiện. Vậy thành B́nh-lỗ có lẽ ở vào hạt Thái-nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng-đạo-vương th́ thành B́nh-lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền-Lê, rồi Lư thường Kiệt đời Lư đă đánh quân Tống ở đó.
__________________
Thành Nam quê ta đó
Là đất học, đất văn
Bao danh nhân, trí sĩ
Rạng danh đất Thiên Trường


SSC Nam Định on Facebook: http://www.facebook.com/SkyScraperCityNamDinh

Last edited by charming.namdinh; June 15th, 2011 at 12:21 PM.
charming.namdinh está en línea ahora   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 01:33 PM   #11
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Chân dung nhân vật :

YẾT KIÊU

(Thế kỷ XIII)

Yết Kiêu là tuỳ tướng của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Ông tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê ở làng Hạ B́, huyện Gia Phúc (nay là thôn Hạ B́, xă Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương).

Nhà ông rất nghèo, nên ngày ngày phải lặn lội ven sông ṃ cua, bắt cá. Yết Kiêu có tài bơi lặn giống như một loài thuỷ tộc. Sau này, ông là một trong năm tuỳ tướng tài giỏi và thân tín của Trần Hưng Đạo, đó là: Cao Mang, Đại Hành, Nguyễn Địa Lô, Dă Tượng và ông.

Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông thế kỷ XIII, ông chuyên dùng tài bơi lặn của ḿnh để xâm nhập sâu vào đội h́nh địch để đục thủng đánh ch́m các chiến thuyền, mang lại nhiều chiến công vang dội đóng góp lớn cho các cuộc kháng chiến. Cũng bằng tài bơi lặn của ḿnh mà ông đă nhiều lần xông pha nơi trận tiền, giữa đội h́nh địch để cứu nguy và bảo vệ cho chủ tướng. Yết Kiêu rất được Hưng đạo Đại vương tin yêu và trọng dụng. Đă có lần Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn ướm hỏi về việc nhiều người khuyên can Đại vương hăy lấy lại ngôi vua từ ngành thứ về cho ngành trưởng (Cụ Trần Liễu thân phụ của Trần Hưng Đạo là anh của Trần Cảnh vị vua đầu tiên của Triều Trần. Chi tiết của sự việc nhiều người đă biết).



Hưng đạo Đại vương thử hỏi:

“…Khi phụ thân ta (tức Trần Liễu) sắp mất có dặn bảo ta phải lấy cho được thiên hạ, th́ Người mới an ḷng nhắm mắt. Nhà ngươi thấy thế nào, có nên làm thế không?..”

Yết Kiêu thưa:

“…Làm vậy tuy có phú quư nhất thời mà ô danh muôn thuở. Tôi muốn làm quan hầu cho Đại vương đến lúc già chết, chứ không muốn làm quan với ông vua bất trung…”



Khi ông mất, vua Trần truyền lập đền thờ ông ở bờ sông làng Hạ B́ quê ông

(tên nôm là làng Quát). Hội đền Quát được tổ chức long trọng và rất lớn hàng năm vào ngày 15-8 âm lịch để tưởng nhớ Yết Kiêu. Lễ hội có tục bơi thuyền chải nam, nữ. Yết Kiêu được tôn là ông tổ của ngành bơi lặn nước ta.

Ở Hải Dương, cùng với đền Quát c̣n có nhiều nơi thờ phụng Yết Kiêu, nhất là những nơi ông đánh trận ngày xưa. Đặc biệt tại làng chài có tên Nam Hải, thuộc xă Kênh Giang, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương cũng có một ngôi đền do nhân dân lập lên để thờ Yết Kiêu (tức Phạm Hữu Thế). Tại đây, nhân dân coi ông là người khai thiên lập địa, là vị Thành hoàng của cả xă. V́ hầu hết người dân Kênh Giang hiện nay vẫn giữ nghề sông nước, nhưng đă vươn xa hơn ra ngoài tỉnh và ra cả biển. Điều đặc biệt tại ngôi đền này c̣n lưu truyền được một vật vô giá, đó là chiếc mũ chiến cổ bằng đồng rất nặng của chính Yết Kiêu đội khi đi đánh trận. Lễ hội tưởng nhớ Yết Kiêu tại đây diễn ra vào 15- Giêng âm lịch hàng năm, cũng thu hút rất đông du khách thập phương t́m về tham dự.



Về danh tướng Yết Kiêu – Phạm Hữu Thế, đời sau có thơ vịnh rằng:

“Hồ Hải xông pha tỏ ư ḿnh

Không nề lặn lội cứu sinh linh

Đáy nước khoan thuyền bắt Bá Linh

Cướp vía Thoát Hoan khi đắc báo

Giáp oai Hưng Đạo lúc hành binh

Một mai phá giặc thành công lớn

Rạng vẻ trời Nam một tướng tinh”.

-------------


PHẠM VĂN CHỨC

Đài PT-TH tỉnh Hải Dương; ĐT: 0982.199.309 ; 03206.259.309



Giai thoại, truyền thuyết

về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế

Ai trong số những người họ Phạm chúng ta cũng luôn tự hào về tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế. Một vị tướng tài giỏi của Nhà Trần, một gia nô hết mực trung thành của Trần Hưng Đạo.

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương c̣n lưu truyền một số giai thoại, truyền thuyết, ca ngợi công đức và tài năng của ông, xin trân trọng giới thiệu với bà con trong ḍng tộc để chúng ta thêm tự hào về một thuở cha ông.

1. Trâu thần và Yết Kiêu

Yết Kiêu tên thật là Phạm Hữu Thế. Quê cha (cụ Phạm Hữu Hiệu) ở làng Hạ B́, c̣n gọi là làng Quát ( xă Yết Kiêu, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương ngày nay). Nhưng quê mẹ (cụ Vũ Thị Duyên) lại ở Lôi Động, xă Tân An, huyện Thanh Hà cùng tỉnh. Bố làm nghề đánh cá. Nhà nghèo, cha mất sớm, từ nhỏ Phạm Hữu Thế đă phải nối nghiệp bố lăn lộn trên sông nước, kiếm ăn nuôi mẹ. Truyền thuyết kể nhiều về tuổi niên thiếu của ông.

Một hôm, về Lôi Động, ông đi gánh nước, thấy hai con trâu một đen một trắng húc nhau chí mạng. Con trâu đen thua nhưng cuc, đánh sừng rất hiểm. Con trâu trắng phi phàm, húc khỏe nhưng ra đ̣n nhởn nhơ. Vốn có sức khỏe vật được trâu, Hữu Thế hạ đôi thùng gánh nước, dùng đ̣n ống vụt vài miếng thượng hạ. Trâu đen dính đ̣n chạy re, lao vào làng. Trâu trắng né đ̣n như người, một cú xiên rất hiểm làm trâu trắng ngă lăn và kỳ lạ thay tan thành ánh nắng mờ ảo rồi biến mất. Chỗ đất trâu đứng t́m thấy hai chiếc lông. Cầm lên ngắm, tự nhiên Hữu Thế thấy máu bừng lên mặt. Ông chạy ra ao, lao xuống nước, nước rẽ đôi, lên bờ thấy lông không ướt, có lẽ nó cũng muốn tan trong nắng. Hữu Thế vội nuốt vào bụng. Từ đó thân thể cường tráng, trí lực phi thường, bơi lội dưới nước như đi trên đất bằng (Nhập thủy như phúc b́nh địa).

Đêm ấy về nhà, ông kể với mẹ. Vũ Nương bảo đó là chuyện đại cát. Hai mẹ con đều mơ một giấc mơ hệt nhau. Sáng ra kể, xóm làng đều cho là lạ.Giấc mơ đó là, hai mẹ con được đón một đôi trai thanh gái lịch, họ vào nhà Vũ Nương, vách đất, nền đất biến thành lâu đài. Cái ao dào dạt sóng vỗ thành con sông dài tít tắp. Trời không trăng vẫn rực sáng. Ở gốc xoan, một con trâu trắng thừng xuyên mũi buộc chặt gốc cây. Hữu Thế dụi mắt bảo mẹ: “Đúng con trâu sáng con gặp đây”. Người con trai và cô gái bảo: “Ta là Ngưu Lang và Chức Nữ, nay dịp Ngâu chúng ta gặp nhau, không chăn trâu cho trời được, phải buộc mũi không nó đi khắp bầu trời biết đâu mà t́m”. Vũ Nương hỏi: “Chúng tôi ở đâu?”. Ngưu Lang bảo: “Lúc sáng tôi đi t́m trâu gặp con trai bà, con bà không làm hại trâu. Tôi muốn mời hai mẹ con bà lên trời chơi để trả ơn. Đây là đào tiên vườn Tây Vương Mẫu, tôi biếu bà một giỏ. C̣n con trai bà sau này sẽ được lưu danh trong quốc sử v́ có nhiều công lao giúp nước”. Hữu Thế ṭ ṃ hỏi: “Sông ǵ sáng thế?”. Người con trai bảo : “Cậu sẽ nổi danh v́ sông nước mà không biết sông này ư!”. Nói rồi người con trai vỗ tay cho con sông cuộn sóng cao ngất: “Đó là sông Ngân Hà. Ta sẽ c̣n bảo trâu thần, cày thần xuống giúp đất Bàng Hà sau vài bốn trăm năm nữa”. Chợt trên sông Ngân rợp tiếng quạ kêu. Chúng vừa bay đầy trời vừa đan kết thành cây cầu Ô Thước. Ngưu Lang nhẹ nhàng bảo Chức Nữ: “Thôi ta về”. Cô gái mỉm cười đi theo, đằng sau là con trâu trắng. Thế là tan giấc mộng.



2. Làm tướng đánh giặc

Tài năng Hữu Thế ngày một nổi tiếng. Trần Hưng Đạo trọng dụng và đặt tên là Yết Kiêu. Cùng với Dă Tượng là tướng tài lục quân, Yết Kiêu là tướng sông nước. Hai ông được Trần Hưng Đạo coi là gia nô, cận vệ trung thành, tài trí và mưu lược. Có phen chặn giặc ở biên giới, địch mạnh ta phải lui. Hưng Đạo vương định lui quân theo đường chân núi, Dă Tượng can v́ đoán có quân Nguyên mai phục. Song rút đường sông th́ biết t́m đường nào? Yết Kiêu đi ḍ đường từ hôm trước đă đợi ở băi Tân. Khi Trần Hưng Đạo quay khỏi núi về đường thủy trời đă mờ tối, nh́n bến nước mờ ảo vẫn có con thuyền nhỏ đứng đợi và sau đó đưa Vương rút lui an toàn. Kỵ binh giặc Nguyên không hiểu quân Trần có tài thăng thiên hay là độn thổ nữa. Đại vương Hưng Đạo cả mừng mà rằng: “Chim Hồng hộc bay được cao và xa là nhờ 6 cái trụ lông cánh, nếu không khác ǵ chim thường. Yết Kiêu, Dă Tượng là cánh chim hồng hộc của ta”.

Giữa Trần Liễu (phụ thân Trần Hưng Đạo) và em là Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) có mối bất ḥa lớn do Thái sư Trần Thủ Độ ép Trần Liễu nhường vợ cho Trần Cảnh. Trần Liễu đă nói với Trần Hưng Đạo là phải v́ cha mà lấy thiên hạ. Khi thế nước lung lay, quyền bính quân quốc đều nằm ở trong tay ḿnh, con Trần Hưng Đạo là Trần Quốc Tảng khuyên cha thực hiện ư đồ của ông nội. Ư đă quyết, nhưng Trần Hưng Đạo vẫn muốn thử ḷng 2 gia nô cật ruột là Yết Kiêu và Dă Tượng, cả hai đều can.



Yết Kiêu có công lớn trong sự nghiệp đánh giặc Nguyên, được vua Trần phong tặng: “Trần triều Hữu tướng Đệ nhất bộ đô soái thủy quân, Tước hầu”.



Chuyện đánh giặc của Yết Kiêu được dân làng Lôi Động kể rất nhiều. Người người c̣n nhớ măi chuyện ông dùng tài lặn đánh đắm thuyền giặc, bị bắt c̣n lừa được giặc nhảy xuống sông thoát….Lần ấy, ông có nhiệm vụ khóa đuôi một cuộc hành quân đường thủy. Thuyền lương đi chậm quá, ngoặt sang khúc sông khác th́ thuyền địch đến. Những tên giặc Nguyên ḿnh trần đầu trọc, thấy thuyền Yết Kiêu chỉ có một ḿnh ông, chúng ḥ nhau đuổi ḥng bắt sống ông.Chúng hí hố reo mừng, cá tươi, thịt béo, rượu nồng ngả ra kín đặc quanh Yết Kiêu. Bất ngờ, ông xuống tấn khiến thuyền lật úp. Quân Nguyên chờ mài không thấy ông nổi lên, rà đáy sông, buông lưới vẫn không thấy ǵ. Về đến quân doanh nhà Trần, ông mới tươi cười kể: Lúc đó có con cá chép cực lớn lượn qua, ông đă leo lên ḿnh cá, bơi nhanh thoát ra khỏi ṿng vây. Từ khi có hai chiếc lông trâu của Ngưu Lang, Yết Kiêu có tài bầu bạn với cá nước như với người.

Ở quê Hạ B́, dân làng đă làm con cá chép bằng gỗ quư, ḿnh dài 1m20, giữa thân đường kính 28cm, đục rỗng. Vây, vẩy được cách điệu bằng các hoa văn trang trí sinh động. Đầu cá to, râu dài vắt hai bên mép, miệng há to vểnh lên trông rất ngộ nghĩnh và độc đáo.



3. Với công chúa nhà Nguyên

Yết Kiêu từng tháp tùng đoàn sứ bộ sang cống nhà Nguyên. V́ phục tài, quư đức trung hiền của Yết Kiêu mà vua Nguyên bỏ cả hiềm khích, cho công chúa và chục nàng hầu đến dinh sứ bộ để hầu hạ từng người. Vua Nguyên mật lệnh cho công chúa phải có con trai với tướng nhà Trần và t́m cách nếu có thể th́ giữ chân Yết Kiêu lại. Éo le thay, Yết Kiêu th́ vô t́nh mà công chúa th́ hữu ư. Nàng cảm phục người con trai đất Bàng Hà, rồi đem ḷng yêu thương, thầm nguyện theo hầu chăn gối…Sự t́nh chẳng ai hay, đoàn sứ bộ vẫn làm tṛn phận sự rồi măn hạn ra về. Yết Kiêu lại tháp tùng đoàn chu đáo và cẩn trọng…Công chúa nhà Nguyên đâm nhớ thương, tủi hờn, oán vua cha, trách thân trách phận. Thế rồi, nàng mặt mày ủ ê, sầu thảm…



Những vần thơ được lưu truyền đến ngày nay, tương truyền được công chúa nhà Nguyên ngâm ngợi và thêu vào khăn áo gửi theo đoàn sứ bộ Đại Việt:

Độc thượng giang lâu tứ liễu nhiên
Nguyệt quang như thủy, thủy như thiên
Đồng lai vọng nguyệt nhân hà xứ
Phong cảnh y hy tự khứ niên.

Cao lăo ở làng Lôi Động phỏng dịch là:

Lên lầu dạ thấy bồi hồi
Trăng soi bóng nước, nước trời ḥa nhau
Cùng ta thưởng nguyệt đêm nao
Bây giờ đă ở phương nào, người ơi ?!



Và lại nữa:

Dục biệt khiên Lang Y

Lang kim đáo hà xứ

Bất hận quy lai tŕ

Mạc hướng lâm cùng khứ.

Có lời dịch là:

Dứt áo phút ly biệt

Thiếp hỏi chàng đi đâu

Chẳng hận về sai hẹn

Chỉ mong chớ phụ nhau.

Rồi công chúa nhà Nguyên ốm to. Vua Nguyên cuống lên, ra chỉ để công chúa sang thăm Đại Việt, cầu hôn Yết Kiêu. Sang đến vùng biên giới (Móng Cái bây giờ) th́ nàng được tin Yết Kiêu đă tạ thế. Nàng bèn sai lập đàn để cầu siêu cho “ linh hồn”Yết Kiêu tịnh độ. Lại tự lập đàn cầu siêu cho ḿnh, rồi công chúa quyên sinh trên đất Đại Việt…Đáng thương cho công chúa nhà Nguyên, nàng có biết đâu, cái ngón “mỹ nhân kế” của vua cha, sang Đại Việt gặp phải người sắt đá, anh hùng…đâu có lụy nữ nhi thường t́nh mà mắc vào bẫy, sa vào mưu chước hậu chiến của giặc Nguyên. Yết Kiêu nghe tin, cũng thật thương cho người con gái đài các cao sang mà nhẹ dạ.

Đời sau, ở đền Quát (nơi thờ Yết Kiêu đến bây giờ) dân làng cũng lấy đá tạc 9 nàng hầu và 2 vệ sĩ để thờ vọng hương hồn người đă trao mối chân t́nh với Yết Kiêu. Thực ra, có lẽ do xuất thân từ thường dân, chức phận gia nô, nên sử sách không ghi nhiều về Yết Kiêu (?!). Nhưng đối với nhân dân, tướng quân Yết Kiêu-Phạm Hữu Thế sống trong huyền thoại và dă sử, sống măi trong ḷng dân muôn đời. Những câu chuyện trên đây là minh chứng cho nhận định ấy và được truyền bá rộng răi nơi quê hương ông và cả nững nơi ông đă từng đánh giặc giữ nước./.



PHẠM VĂN CHỨC
(Ghi lại từ các câu chuyện dân gian kể ở Hải Dương)
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 01:46 PM   #12
hạc thành
Registered User
 
Join Date: Aug 2010
Posts: 551
Likes (Received): 22

Bà Triệu (ST)

Bà Triệu, hay nàng Trinh (Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh) của truyền thuyết dân gian người miền núi Quân Yên, quận Cửu Chân. Quân Yên, trái núi đó vẫn giữ tên gọi ấy cho đến tận ngày nay, đứng sừng sững bên bờ sông Mă gần ngă ba Bông, thuộc địa phận hợp tác xă Định Công của tỉnh Thanh Hóa.



Thôn Cẩm Trướng thuộc xă Định Công có truyền thuyết "Đá biết nói" như sau: Vùng núi này có con voi trắng một ngà rất dữ tợn hay về phá hoại mùa màng, mọi người đều sợ. Để trừ hại cho dân, Bà Triệu cùng chúng bạn đi vây bắt voi, lùa voi xuống đầm lầy (vùng sông Cầu Chầy ngày xưa c̣n lầy lội) rồi dũng cảm nhẩy lên cưỡi đầu voi và cuối cùng đă khuất phục được con voi hung dữ. Chú voi trắng này sau trở thành người bạn chiến đấu trung thành của Bà Triệu. Nghĩa quân Bà Triệu, những ngày đầu tụ nghĩa, đă đục núi Quân Yên, bí mật cho người ngồi trong hốc đá, đọc bài đồng dao:

Có bà Triệu tướng,
Vâng lệnh trời ta.
Trị voi một ngà,
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.


Nhờ đó cả vùng đă đồn ầm lên rằng núi Quân Yên biết nói, báo hiệu cho dân chúng biết Bà Triệu là "thiên tướng giáng trần" giúp dân, cứu nước. V́ vậy hàng ngũ nghĩa quân thêm lớn, thanh thế thêm to. Họ kéo nhau xuống Phú Điền dựng căn cứ.

Trung tâm tụ nghĩa là vùng núi Tùng Sơn (Phú Điền). Đây là một thung lũng nhỏ nằm giữa hai dăy núi đá vôi thấp, dăy phía bắc (Châu Lộc) là đoạn núi chót ngăn cách hai tỉnh Thanh Hóa và Ninh B́nh cũ, dăy núi phía nam (Tam Đa) là đoạn chót của dải núi chạy dọc sông Mă. Chân phía bắc núi Châu Lộc là sông Lèn, chân phía nam núi Tam Đa là sông Âu, xưa là một ḍng sông lớn. Thung lũng mở rộng cửa về phía đồng bằng ven biển và bị chặn ngang về phía tây bởi ḍng sông Lèn. ở căn cứ này, ngược sông Lèn có thể liên lạc với miền quê Bà Triệu. Là địa điểm gần biển, lại là cửa ngơ từ đồng bằng miền bắc vào Thanh, đó là một vị trí quân sự hiểm yếu, thuận lợi cả công lẫn thủ.

Ở đây c̣n có núi Chung Chinh với 7 đồn lũy tương truyền là quân doanh của Bà Triệu, nơi đă từng diễn ra trên ba chục trận đánh với quân Ngô. Dưới chân núi Tùng, c̣n có cánh đồng Lăng Chúa (lăng Bà Triệu), đồng Vườn Hoa, đồng Xoắn ốc... tương truyền là tên cũ c̣n lại khi Bà Triệu đắp lũy xây thành. ở đây c̣n lưu hành rộng răi truyền thuyết về ba anh em nhà họ Lư đi t́m Bà Triệu, rước Bà từ quê ra đây dựng doanh trại, sửa soạn khởi nghĩa và tôn Bà làm chủ tướng.

Cảm phục chí khí hiên ngang cứu nước của người con gái hai chục tuổi đời, dân chúng Cửu Chân theo phục Bà rất đông. Các thành ấp của giặc Ngô đều bị triệt hạ, quan lại giặc từ thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ chạy trốn hết. Từ Cửu Chân, cuộc khởi nghĩa lan ra Giao Chỉ ở ngoài bắc. Thứ sử Giao Châu mất tích!

Một câu nói, tương truyền là lời Bà Triệu phát ra trên núi nghĩa, ngh́n thu c̣n vang vọng măi:

"Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá ḱnh ở Biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang san, cởi ách nô lệ chứ tôi không chịu khom lưng làm t́ thiếp người ta!"

Rất nhiều câu chuyện về t́nh dân với khởi nghĩa Bà Triệu. Đây là một ông già mù miền núi đă đi khắp nơi, dùng tiếng đàn, giọng hát của ḿnh để ngâm ngợi cổ vũ dân chúng đứng dậy cứu nước; kia một bà cụ hàng nước cố xin cho con gái được theo quân giết giặc, c̣n ḿnh th́ giúp cả chơng chuối với chum nước chè xanh cho nghĩa binh đang trẩy quân qua giải khát. Dọc sông Mă, vùng Cẩm Thạch có truyền thuyết và di tích về một bà nữ tướng cưỡi voi đánh giặc Ngô. Vùng Khang Nghệ có truyền thuyết nói rằng: thời xưa sông Mă có một nhánh chảy từ đầm Hàn về cửa Lạch Trường. Đó là nơi quân Ngô chiếm giữ, chiến thuyền san sát như lá tre. Một chàng trai đă ăn trộm ngựa chiến của quân giặc trốn về với Bà Triệu và trở thành dũng tướng của nghĩa quân. Trong một trận giao tranh trên sông nước, v́ anh đi chân ṿng kiềng nên đă vấp phải dây chằng mà tử trận. Giặc Ngô đang ăn mừng thắng lợi th́ hai bờ sông chuyển động. Đất trời nổi cơn giận dữ, hắt rừng cây núi đá xuống lấp cạn ḍng sông, chôn vùi cả mấy vạn xác thù...

Lại có câu chuyện đền Cô Thị ở xă Hà Ngọc (Hà Trung). Một cô gái rất thích quả thị, chờ đợi người yêu đi đánh giặc và khi chết biến thành cây thị. Cây thị này chỉ có một quả, không ai hái được, v́ hễ ai tḥ tay bẻ th́ cành thị lại tự dưng vút hẳn lên cao. Cành ấy đời đời ngả về phía đông nam theo hướng người yêu của cô đang ở trong quân dinh Bà Triệu. Một ngày thắng trận, chàng trai được phép Bà Triệu về thăm làng xóm th́ cành cây mới chịu sà xuống và quả thị rơi vào ống tay áo của chàng....

Đứng trước nguy cơ tan ră của chính quyền đô hộ ở Châu Giao, triều Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận (cháu họ viên danh tướng Lục Tốn) làm thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem khoảng 8.000 quân sang Giao Châu đàn áp nhân dân khởi nghĩa. Kết hợp dùng binh lực uy hiếp, dùng mưu mô dụ dỗ, dùng của cải mua chuộc, Lục Dận đă khiến được ba ngh́n hộ ở Cao Lương (Hợp Phố) dưới quyền thủ lĩnh Hoàng Ngô đầu hàng. Sau đó, Lục Dận thận trọng tiến binh vào Giao Chỉ và Cửu Chân, khi phát quân đàn áp, khi dừng quân dùng của cải, tiền bạc mua chuộc các thủ lĩnh địa phương. Rút cục, hàng trăm thủ lĩnh nghĩa quân và hơn năm vạn dân đă phải chịu thua quân Ngô.

Truyền thuyết dân gian kể rằng: Bà Triệu đă chiến đấu chống giặc Ngô, trên ba mươi trận thắng lợi. Giặc gọi tên bà là Nhụy Kiều tướng quân (Vị tướng nữ yêu kiều), là Lệ Hải bà vương (Vua bà vùng biển mĩ lệ). Quân Ngô sợ bà, thường có câu:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà Vương nan.
(Múa ngang ngọn dáo dễ chống hùm,
Đối mặt Vua Bà th́ thực khó).


Cũng theo truyền thuyết dân gian, về sau có kẻ phản bội, mách với Lục Dận rằng Bà là nữ tướng "ái khiết úy ô" (yêu cái trong sạch, ghét cái nhơ bẩn). Quân Ngô liền trần truồng tiến đánh Bà. Bà hổ thẹn, giao binh cho 3 tướng họ Lư, lên núi Tùng tự vẫn.

Trên núi Tùng hiện có mộ Bà Triệu và dưới chân núi Tùng là đền thờ chính của Bà Triệu. Hội đền hằng năm ngày trước vào ngày 21 tháng hai âm lịch.

Khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, nhưng h́nh ảnh người con gái kiên trinh bất khuất, người nữ anh hùng dân tộc siêu việt quyết nối chí Bà Trưng "giành lại giang san, cởi ách nô lệ" muôn thuở không mờ trong tâm trí phụ nữ và dân tộc Việt Nam.

Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.

(thơ ca dân gian)
hạc thành no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 01:51 PM   #13
Minhchauphuongdong
QUỐC DÂN ĐẠI VIỆT(國民大越)
 
Minhchauphuongdong's Avatar
 
Join Date: Sep 2010
Location: Saigon- Pearl of Far East
Posts: 8,792
Likes (Received): 361

B́nh Ngô đại cáo

B́nh Ngô đại cáo (chữ Hán: 平吳大誥) là bài cáo của Nguyễn Trăi viết bằng chữ Hán vào mùa xuân năm 1428, thay lời B́nh Định vương Lê Lợi để tuyên cáo kết thúc cuộc kháng chiến chống Minh, giành lại độc lập cho Đại Việt.

Tác giả bài Đại Cáo này là Nguyễn Trăi - khai quốc công thần của nhà Hậu Lê. Ông tuy không tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ những ngày đầu, nhưng cũng theo pḥ B́nh định Vương Lê Lợi từ khi nghĩa quân Lam Sơn c̣n ở thế yếu trước sự đàn áp của quân Minh, đă vạch ra nhiều kế sách giúp cho nghĩa quân Lam Sơn thu phục nhân tâm và giành được ưu thế trên chiến trường. Tương truyền, ông là người nghĩ ra kế sách viết ḍng chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trăi làm tôi thần) trên lá cây, tạo ra như một điềm trời, khẳng định về yếu tố "thiên mệnh" cho Lê Lợi, làm ḷng người nhanh chóng hướng về nghĩa quân Lam Sơn.

Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ đă phong thưởng cho Nguyễn Trăi là bậc cao trọng nhất bên văn quan, ông được ban quốc tính (tức được mang họ vua, họ Lê), tước Hầu (Quan Phục Hầu) chỉ kém tước Công một bậc. Trên thực tế ông vừa là cố vấn, vừa là quân sư, nhà chính trị, tài kiêm văn vơ rất thân với vua.

平吳大誥

代天行化皇上若曰。

蓋 聞 ﹕

仁 義之 舉, 要 在 安 民,
弔伐 之 師 莫 先 去 暴 。
惟 我 大 越 之 國,
實 為文 獻 之 邦 。
山 川 之 封域 既 殊,
南 北 之 風 俗亦 異 。
自 趙 丁 李 陳 之肇 造 我 國,
與 漢 唐 宋元 而 各 帝 一 方 。
雖 強弱 時 有 不 同
而 豪 傑 世未 常 乏 。

故 劉 龔 貪 功以 取 敗,
而 趙 禼 好 大 以 促 亡 。
唆 都 既 擒 於 鹹 子 關 ,
烏 馬 又 殪 於 白 藤 海 。
嵇 諸 往 古,
厥 有 明 徵。

頃 因 胡 政 之 煩 苛 。
至 使 人 心 之 怨 叛 。
狂明 伺 隙, 因 以 毒 我 民;
惡 黨 懷 奸, 竟 以 賣我 國 。
焮 蒼 生 於 虐 焰,
陷 赤 子 於 禍 坑 。
欺天 罔 民, 詭 計 蓋 千 萬狀;
連 兵 結 釁 稔 惡 殆二 十 年 。
敗 義 傷 仁 ,乾 坤 幾 乎 欲 息;
重 科厚 歛, 山 澤 靡 有 孑 遺。
開 金 場 塞 冒 嵐 瘴 而斧 山 淘 沙,
採 明 珠 則觸 蛟 龍 而 緪 腰 汆 海 。
擾 民 設 玄 鹿 之 陷 阱 ,
殄 物 織 翠 禽 之 網 羅 。
昆 虫 草 木 皆 不 得 以 遂其 生,
鰥 寡 顛 連 俱 不獲 以 安 其 所 。
浚 生 靈之 血 以 潤 桀 黠 之 吻 牙;
極 土 木 之 功 以 崇 公私 之 廨 宇 。
州 里 之 征徭 重 困,
閭 閻 之 杼 柚皆 空 。
決 東 海 之 水 不足 以 濯 其 污,
罄 南 山之 竹 不 足 以 書 其 惡 。
神 民 之 所 共 憤,
天 地之 所 不 容 。



奮 跡 藍山,
棲 身 荒 野 。
念 世讎 豈 可 共 戴,
誓 逆 賊難 與 俱 生 。
痛 心 疾 首者 垂 十 餘 年,
嘗 膽 臥薪 者 蓋 非 一 日 。
發 憤忘 食, 每 研 覃 韜 略 之書,
即 古 驗 今, 細 推究 興 亡 之 理 。
圖 回 之志
寤 寐 不 忘 。
當 義 旗初 起 之 時,
正 賊 勢 方張 之 日 。

奈 以 ﹕

人 才秋 葉,
俊 傑 晨 星 。
奔走 先 後 者 既 乏 其 人 ,
謀 謨 帷 幄 者 又 寡 其 助。
特 以 救 民 之 念, 每鬱 鬱 而 欲 東;
故 於 待賢 之 車, 常 汲 汲 已 虛左 。

然 其

得 人 之 效 茫若 望 洋,
由 己 之 誠 甚於 拯 溺 。
憤 兇 徒 之 未滅,
念 國 步 之 遭 迍 。
靈 山 之 食 盡 兼 旬,
瑰縣 之 眾 無 一 旅 。
蓋 天欲 困 我 以 降 厥 任,
故與 益 勵 志 以 濟 于 難 。
揭 竿 為 旗, 氓 隸 之 徒四 集
投 醪 饗 士, 父 子之 兵 一 心 。
以 弱 制 彊, 或 攻 人 之 不 備;
以寡 敵 眾 常 設 伏 以 出 奇。

卒 能

以 大 義 而 勝 兇殘,
以 至 仁 而 易 彊 暴。
蒲 藤 之 霆 驅 電 掣 ,
茶 麟 之 竹 破 灰 飛 。
士氣 以 之 益 增,
軍 聲 以之 大 振 。
陳 智 山 壽 聞風 而; 褫 魄,
李 安 方 政 假 息 以 偷生 。
乘 勝 長 驅, 西 京既 為 我 有;
選 兵 進 取, 東 都 盡 復 舊 疆 。
寧橋 之 血 成 川, 流 腥 萬里;
窣 洞 之 屍 積 野 ,遺 臭 千 年 。
陳 洽 賊 之腹 心, 既 梟 其 首;
李亮 賊 之 奸 蠹, 又 暴 厥屍 。
王 通 理 亂 而 焚 者益 焚,
馬 瑛 救 鬥 而 怒者 益 怒 。
彼 智 窮 而 力盡, 束 手 待 亡;
我 謀伐 而 心 攻, 不 戰 自 屈。
謂 彼 必 易 心 而 改 慮,
豈 意 復 作 孽 以 速 辜。
執 一 己 之 見 以 嫁 禍於 他 人,
貪 一 時 之 功以 貽 笑 於 天 下 。
遂 靈宣 德 之 狡 童, 黷 兵 無厭;
仍 命 晟 昇 之 懦 將, 以 油 救 焚 。
丁 未 九月 柳 昇 遂 引 兵 猶 邱 溫而 進,
本 年 十 月 木 晟又 分 途 自 雲 南 而 來 。
予 前 既 選 兵 塞 險 以 摧其 鋒,
予 後 再 調 兵 截路 以 斷 其 食 。
本 月 十八 日 柳 昇 為 我 軍 所 攻, 計 墜 於 支 稜 之 野 ;
本 月 二 十 日 柳 昇 又 為我 軍 所 敗, 身 死 於 馬鞍 之 山 。
二 十 五 日 保定 伯 梁 銘 陣 陷 而 喪 軀,
二 十 八 日 尚 書 李 慶計 窮 而 刎 首 。

我 遂 迎刃 而 解,
彼 自 倒 戈 相攻 。
繼 而 四 面 添 兵 以包 圍,
期 以 十 月 中 旬而 殄 滅 。
爰 選 貔 貅 之士,
申 命 爪 牙 之 臣 。
飲 象 而 河 水 乾,
磨 刀而 山 石 鈌 。
一 鼓 而 黥刳 鱷 斷,
再 鼓 而 鳥 散麇 驚 。
決 潰 蟻 於 崩 堤,
振 剛 風 於 稿 葉 。
都督 崔 聚 膝 行 而 送 款 ,
尚 書 黃 福 面 縛 以 就 擒。
僵 屍 塞 諒 江 諒 山 之途,
戰 血 赤 昌 江 平 灘之 水 。
風 雲 為 之 變 色,
日 月 慘 以 無 光 。

其雲 南 兵 為 我 軍 所 扼 於梨 花 ,自 恫 疑 虛 喝 而先 以 破 腑;
其沐晟眾聞柳昇為我軍所敗於芹站,遂躪藉奔潰而僅得脫身。
冷 溝 之 血杵 漂, 江 水 為 之 嗚 咽;
丹 舍 之 屍 山 積, 野草 為 之 殷 紅 。
兩 路 救兵 既 不 旋 踵 而 俱 敗 ,
各 城 窮 寇 亦 將 解 甲 以出 降 。
賊 首 成 擒, 彼既 掉 餓 虎 乞 憐 之 尾 ;
神 武 不 殺, 予 亦 體 上帝 孝 生 之 心 。
參 將 方政, 內 官 馬 騏, 先 給艦 五 百 餘 艘, 既 渡 海而 猶 且 魂 飛 魄 散;
總兵 王 通, 參 政 馬 瑛 ,又 給 馬 數 千 餘 匹, 已還 國 而 益 自 股 慄 心 驚。
彼 既 畏 死 貪 生, 而修 好 有 誠;
予 以 全 軍為 上, 而 欲 民 之 得 息。

非 惟 謀 計 之 極 其 深遠,
蓋 亦 古 今 之 所 未見 聞 。
社 稷 以 之 奠安,
山 川 以 之 改 觀 。
乾 坤 既 否 而 復 泰,
日月 既 晦 而 復 明 。
于 以開 萬 世 太 平 之 基,
于以 雪 天 地 無 窮 之 恥 。
是 由 天 地 祖 宗 之 靈 有 以 默 相 陰 佑 而 致 然 也 !

於 戲 !

一戎 大 定, 迄 成 無 兢 之功;
四 海 永 清, 誕 布維 新 之 誥 。
播 告 遐 邇,
咸 使 聞 知 。


B́nh Ngô Đại Cáo


Đại thiên hành hóa hoàng thượng nhược viết:

Cái văn:

Nhân nghĩa chi cử, yếu tại an dân,
Điếu phạt chi sư, mạc tiên khử bạo.
Duy ngă Đại Việt chi quốc,
Thực vi văn hiến chi bang.
Sơn xuyên chi phong vực kư thù,
Nam bắc chi phong tục diệc dị.
Tự Triệu Đinh Lư Trần chi triệu tạo ngă quốc,[1]
Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.
Tuy cường nhược th́ hữu bất đồng,
Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.

Cố Lưu Cung tham công dĩ thủ bại,
Nhi Triệu Tiết hiếu đại dĩ xúc vong.
Toa Đô kư cầm ư Hàm Tử quan,
Ô Mă hựu ế ư Bạch Đằng hải.[2]
Kê chư văng cổ,
Quyết hữu minh trưng.

Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
Trí sử nhân tâm chi oán bạn.
Cuồng Minh tứ khích, nhân dĩ độc ngă dân;
Nguỵ đảng hoài gian, cánh dĩ măi ngă quốc.
Hân thương sinh ư ngược diệm,
Hăm xích tử ư họa khanh.
Khi thiên vơng dân, quỷ kế cái thiên vạn trạng;
Liên binh kết hấn, nẫm ác đăi nhị thập niên.
Bại nghĩa thương nhân, càn khôn ky hồ dục tức;
Trọng khoa hậu liễm, sơn trạch mỹ hữu kiết di.
Khai kim trường, tắc mạo lam chướng nhi phủ sơn đào sa,
Thái minh châu, tắc xúc giao long nhi hoàn yêu thộn hải.
Nhiễu dân thiết huyền lộc chi hăm tịnh,
Điễn vật chức thúy cầm chi vơng la.
Côn trùng thảo mộc giai bất đắc dĩ toại kỳ sinh,
Quan quả điên liên câu bất hoạch dĩ an kỳ sở.
Tuấn sinh linh chi huyết dĩ nhuận kiệt hiệt chi vẫn nha;
Cực thổ mộc chi công dĩ sùng công tư chi giải vũ.
Châu lư chi chinh dao trọng khốn,
Lư diêm chi trữ trục giai không.
Quyết Đông Hải chi thủy bất túc dĩ trạc kỳ ô,
Khánh Nam Sơn chi trúc bất túc dĩ thư kỳ ác.
Thần dân chi sở cộng phẫn,
Thiên địa chi sở bất dung.

Dư:

Phấn tích Lam Sơn,
Thê thân hoang dă.
Niệm thế thù khởi khả cộng đái,
Thệ nghịch tặc nan dữ câu sinh.
Thống tâm tật thủ giả thùy thập dư niên,
Thường đảm ngọa tân giả cái phi nhất nhật.
Phát phẫn vong thực, mỗi nghiên đàm thao lược chi thư,
Tức cổ nghiệm kim, tế suy cứu hưng vong chi lư.
Đồ hồi chi chí
Ngộ mị bất vong.
Đương nghĩa kỳ sơ khởi chi th́,
Chính tặc thế phương trương chi nhật.

Nại dĩ:

Nhân tài thu diệp,
Tuấn kiệt thần tinh.
Bôn tẩu tiền hậu giả kư phạp kỳ nhân,
Mưu mô duy ác giả hựu quả kỳ trợ.
Đặc dĩ cứu dân chi niệm, mỗi uất uất nhi dục đông;
Cố ư đăi hiền chi xa, thường cấp cấp dĩ hư tả.

Nhiên kỳ:

Đắc nhân chi hiệu mang nhược vọng dương,
Do kỉ chi thành thậm ư chửng nịch.
Phẫn hung đồ chi vị diệt,
Niệm quốc bộ chi tao truân.
Linh Sơn chi thực tận kiêm tuần,
Khôi Huyện chi chúng vô nhất lữ.
Cái thiên dục khốn ngă dĩ giáng quyết nhiệm,
Cố dữ ích lệ chí dĩ tế vu nan.
Yết can vi kỳ, manh lệ chi đồ tứ tập;
Đầu giao hưởng sĩ, phụ tử chi binh nhất tâm.
Dĩ nhược chế cường, hoặc công nhân chi bất bị;
Dĩ quả địch chúng, thường thiết phục dĩ xuất kỳ.

Tốt năng:

Dĩ đại nghĩa nhi thắng hung tàn,
Dĩ chí nhân nhi dịch cường bạo.
Bồ Đằng chi đ́nh khu điện xế,
Trà Lân chi trúc phá khôi phi.
Sĩ khí dĩ chi ích tăng,
Quân thanh dĩ chi đại chấn.
Trần Trí, Sơn Thọ văn phong nhi sỉ phách,
Lư An, Phương Chính giả tức dĩ thâu sinh.
Thừa thắng trường khu, Tây Kinh kư vị ngă hữu;
Tuyển binh tiến thủ, Đông Đô tận phục cựu cương.
Ninh Kiều chi huyết thành xuyên, lưu tinh vạn lư;
Tốt Động chi thi tích dă, di xú thiên niên.
Trần Hiệp tặc chi phúc tâm, kư kiêu kỳ thủ;
Lư Lượng tặc chi gian đố, hựu bạo quyết thi.
Vương Thông lư loạn nhi phần giả ích phần,
Mă Anh cứu đấu nhi nộ giả ích nộ.
Bỉ trí cùng nhi lực tận, thúc thủ đăi vong;
Ngă mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất.
Vị bỉ tất dị tâm nhi cải lự,
Khởi ư phục tác nghiệt dĩ tốc cô.
Chấp nhất kỷ chi kiến, dĩ giá họa ư tha nhân,
Tham nhất th́ chi công, dĩ di tiếu ư thiên hạ.
Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm;
Nhưng mệnh Thạnh Thăng chi nọa tướng, dĩ du cứu phần.
Đinh vị cửu nguyệt Liễu Thăng toại dẫn binh do Khâu Ôn nhi tiến,
Bản niên thập nguyệt Mộc Thạnh hựu phân đồ tự Vân Nam nhi lai.
Dư tiền kư tuyển binh tái hiểm dĩ tồi kỳ phong,
Dư hậu tái điều binh tiệt lộ dĩ đoạn kỳ thực.
Bản nguyệt thập bát nhật Liễu Thăng vị ngă quân sở công, kế trụy ư Chi Lăng chi dă;
Bản nguyệt nhị thập nhật Liễu Thăng hựu vị ngă quân sở bại, thân tử ư Mă Yên chi sơn.
Nhị thập ngũ nhật Bảo Định bá Lương Minh trận hăm nhi táng khu,
Nhị thập bát nhật Thượng thư Lư Khánh kế cùng nhi vẫn thủ.

Ngă toại nghênh nhận nhi giải,
Bỉ tự đảo qua tương công.
Kế nhi tứ diện thiêm binh dĩ bao vi,
Kỳ dĩ thập nguyệt trung tuần nhi điễn diệt.
Viên tuyển tỳ hưu chi sĩ,
Thân mệnh trảo nha chi thần.
Ẩm tượng nhi hà thủy càn,
Ma đao nhi sơn thạch khuyết.
Nhất cổ nhi ḱnh khô ngạc đoạn,
Tái cổ nhi điểu tán quân kinh.
Quyết hội nghĩ ư băng đê,
Chấn cương phong ư cảo diệp.
Đô đốc Thôi Tụ tất hành nhi tống khoản,
Thượng thư Hoàng Phúc diện phược dĩ tựu cầm.
Cương thi tái Lạng Giang, Lạng Sơn chi đồ,
Chiến huyết xích Xương Giang, B́nh Than chi thủy.
Phong vân vị chi biến sắc,
Nhật nguyệt thảm dĩ vô quang.

Kỳ Vân Nam binh vị ngă quân sở ách ư Lê Hoa, tự đỗng nghi hư hạt nhi tiên dĩ phá phủ;
Kỳ Mộc Thạnh chúng văn Liễu Thăng đại bại ư Cần Trạm, toại lận tạ bôn hội nhi cận đắc thoát thân.
Lănh Câu chi huyết chử phiêu, giang thủy vị chi ô yết;
Đan Xá chi thi sơn tích, dă thảo vị chi ân hồng.
Lưỡng lộ cứu binh, kư bất toàn chủng nhi câu bại,
Các thành cùng khấu, diệc tương giải giáp dĩ xuất hàng.
Tặc thủ thành cầm, bỉ kư trạo ngạ hổ khất liên chi vĩ;
Thần vơ bất sát, dư diệc thể thượng đế hiếu sinh chi tâm.
Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mă Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, kư độ hải nhi do thả hồn phi phách tán;
Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mă Anh, hựu cấp mă sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh.
Bỉ kư uư tử tham sinh, nhi tu hảo hữu thành;
Dư dĩ toàn quân vi thượng, nhi dục dân chi đắc tức.

Phi duy mưu kế chi cực kỳ thâm viễn,
Cái diệc cổ kim chi sở vị kiến văn.
Xă tắc dĩ chi điện an,
Sơn xuyên dĩ chi cải quán.
Càn khôn kư bĩ nhi phục thái,
Nhật nguyệt kư hối nhi phục minh.
Vu dĩ khai vạn thế thái b́nh chi cơ,
Vu dĩ tuyết thiên cổ vô cùng chi sỉ.
Thị do thiên địa tổ tông chi linh, hữu dĩ mặc tương âm hựu, nhi trí nhiên dă.

Ô hô!

Nhất nhung đại định, ngật thành vô cạnh chi công;
Tứ hải vĩnh thanh, đản bố duy tân chi cáo.
Bá cáo hà nhĩ,
Hàm sử văn tri.



B́nh Ngô Đại Cáo


Thay trời hành hoá, hoàng thượng truyền rằng.

Từng nghe:

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đă lâu
Núi sông bờ cơi đă chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lư, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có.

Cho nên:

Lưu Cung tham công nên thất bại;
Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;
Cửa Hàm tử bắt sống Toa Đô
Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mă
Việc xưa xem xét,
Chứng cứ c̣n ghi.

Vừa rồi:

Nhân họ Hồ chính sự phiền hà
Để trong nước ḷng dân oán hận
Quân cuồng Minh thưà cơ gây hoạ
Bọn gian tà c̣n bán nước cầu vinh
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.
Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.
Người bị ép xuống biển ḍng lưng ṃ ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.
Kẻ bị đem vào núi đăi cát t́m vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.
Vét sản vật, bắt ḍ chim sả, chốn chốn lưới chăng.
Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi !
Lẽ nào trời đất dung tha?
Ai bảo thần dân chịu được?

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dă nương ḿnh
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau ḷng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.
Quên ăn v́ giận, sách lược thao suy xét đă tinh,
Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ.
Những trằn trọc trong cơn mộng mị,
Chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên,
Chính lúc quân thù đang mạnh.

Lại ngặt v́:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,
Nhân tài như lá mùa thu,
Việc bôn tẩu thiếu kẻ đở đần,
Nơi duy ác hiếm người bàn bạc,
Tấm ḷng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông,
Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm c̣n dành phía tả.

Thế mà:

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nh́n chốn bể khơi.
Tự ta, ta phải dốc ḷng, vội vă hơn cứu người chết đuối.
Phần v́ giận quân thù ngang dọc,
Phần v́ lo vận nước khó khăn,
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,
Lúc Khôi Huyện quân không một đội.
Trời thử ḷng trao cho mệnh lớn
Ta gắng trí khắc phục gian nan.
Nhân dân bốn cỏi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một ḷng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.
Thế trận xuất kỳ, lấy yếu chống mạnh,
Dùng quân mai phục, lấy ít địch nhiều.

Trọn hay:

Đem đại nghĩa để thắng hung tàn,
Lấy chí nhân để thay cường bạo.
Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật,
Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay.
Sĩ khí đă hăng
Quân thanh càng mạnh.
Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,
Lư An, Phương Chính, nín thở cầu thoát thân.
Thừa thắng đuổi dài, Tây Kinh quân ta chiếm lại,
Tuyển binh tiến đánh, Đông Đô đất cũ thu về.
Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm
Tuỵ Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.
Phúc tâm quân giặc Trần Hiệp đă phải bêu đầu
Mọt gian kẻ thù Lư Lượng cũng đành bỏ mạng.
Vương Thông gỡ thế nguy, mà đám lửa cháy lại càng cháy
Mă Anh cứu trận đánh mà quân ta hăng lại càng hăng.
Bó tay để đợi bại vong, giặc đă trí cùng lực kiệt,
Chẳng đánh mà người chịu khuất, ta đây mưu phạt tâm công.
Ngờ đâu vẫn đương mưu tính lại c̣n chuốc tội gây oan.
Giữ ư kiến một người, gieo vạ cho bao nhiêu kẻ khác,
Tham công danh một lúc, để cười cho tất cả thế gian.

Bởi thế:

Thằng nhăi con Tuyên Đức động binh không ngừng
Đồ nhút nhát Thạnh, Thăng đem dầu chữa cháy
Đinh mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại
Năm ấy tháng mười, Mộc Thạnh chia đường từ Vân Nam tiến sang.
Ta trước đă điều binh thủ hiểm, chặt mũi tiên phong
Sau lại sai tướng chẹn đường, tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mă Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lư Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng ṃn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Đánh một trận, sạch không ḱnh ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, B́nh Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ

Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.
Suối Lănh Câu, máu chảy thành sông, nước sông nghẹn ngào tiếng khóc
Thành Đan Xá, thây chất thành núi, cỏ nội đầm đ́a máu đen.
Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,
Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng
Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng
Thần Vũ chẳng giết hại, thể ḷng trời ta mở đường hiếu sinh
Mă Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,
Vương Thông, Mă Anh, phát cho vài ngh́n cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.
Họ đă tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực ḷng
Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.
Chẳng những mưu kế ḱ diệu
Cũng là chưa thấy xưa nay
Xă tắc từ đây vững bền
Giang sơn từ đây đổi mới
Càn khôn bĩ rồi lại thái
Nhật nguyệt hối rồi lại minh
Ngàn năm vết nhục nhă sạch làu
Muôn thuở nền thái b́nh vững chắc
Âu cũng nhờ trời đất tổ tông linh thiêng đă lặng thầm phù trợ;

Than ôi!

Một cỗ nhung y chiến thắng,
Nên công oanh liệt ngàn năm
Bốn phương biển cả thanh b́nh,
Ban chiếu duy tân khắp chốn.

Xa gần bá cáo,
Ai nấy đều hay.
__________________
ĐẠI VIỆT - 大越
Minhchauphuongdong no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 02:23 PM   #14
HarryPham
Chủ tịch HĐTC SSC-KH
 
HarryPham's Avatar
 
Join Date: Mar 2010
Location: Nha trang
Posts: 33,482
Likes (Received): 2505

tại sao ko lập thêm lịch sử mở mang bờ cơi nhờ cái đó oanh liệt đâu kém chiến đấu chống ngoại xâm
HarryPham no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 02:28 PM   #15
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Quote:
Originally Posted by HarryPham View Post
tại sao ko lập thêm lịch sử mở mang bờ cơi nhờ cái đó oanh liệt đâu kém chiến đấu chống ngoại xâm
Hehe...HP có đọc lời giới thiệu ko ah ! cái U nói cũng hay, nhưng trong t́nh h́nh nước sôi lữa bỏng, ư đồ của thread là nêu cao t́nh thần yêu nước chống bọn Tàu Khựa !
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 03:07 PM   #16
letrung
Registered User
 
letrung's Avatar
 
Join Date: May 2010
Location: Vinh city
Posts: 12,087
Likes (Received): 588

Quote:
Originally Posted by Ancient capital View Post
Mời pà con từ Bắc chí Nam hăy từ bỏ định kiến, nêu cao tinh thần yêu nước đóng góp cho việc tuyên truyền giáo dụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta chống giặc ngoại xâm của các thời kỳ, nhất là thời kỳ chống Mông Nguyên... ( Lưu ư : chỉ tính ngang giai đoạn kết thúc Nhà Nguyễn để tránh căi cọ về chính trị mà các thớt trước đă lập !)

Mời các pác post bài và b́nh luận cho rôm rả !
Kết thúc nhà Nguyễn là năm bao nhiêu hả bác? Nếu tính đến cuối (chưa kết thúc) thời nhà Nguyễn th́ nước ta đang bị đô hộ, chia cắt, không đánh đuổi được giặc ngoại xâm.
__________________
...Như cánh chim không mỏi bay khắp trời quê hương...
letrung no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 04:37 PM   #17
vutrulentroi
BANNED
 
Join Date: Apr 2010
Posts: 92
Likes (Received): 0

del

Last edited by vutrulentroi; June 15th, 2011 at 04:45 PM.
vutrulentroi no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 04:48 PM   #18
huevietnam
Hue city - Truly Vietnam
 
huevietnam's Avatar
 
Join Date: Jun 2009
Location: Hue city
Posts: 44,272
Likes (Received): 4625

Quote:
Originally Posted by letrung View Post
Kết thúc nhà Nguyễn là năm bao nhiêu hả bác? Nếu tính đến cuối (chưa kết thúc) thời nhà Nguyễn th́ nước ta đang bị đô hộ, chia cắt, không đánh đuổi được giặc ngoại xâm.
Coi như đến năm 1945 Bảo Đại đọc chiếu thoái vị là nhà Nguyễn cáo chung. Ư của ôn AC là lịch sử chống ngoại xâm phong kiến, tập trung vô mảng này đi ha.
huevietnam no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 07:49 PM   #19
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Quote:
Originally Posted by huevietnam View Post
Coi như đến năm 1945 Bảo Đại đọc chiếu thoái vị là nhà Nguyễn cáo chung. Ư của ôn AC là lịch sử chống ngoại xâm phong kiến, tập trung vô mảng này đi ha.
Đúng như HVN nói đó !
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote
Old June 15th, 2011, 07:58 PM   #20
Ancient capital
Ancient capital
 
Ancient capital's Avatar
 
Join Date: Sep 2009
Posts: 18,547
Likes (Received): 1189

Lư Thường Kiệt - Nhà quân sự, chính trị kiệt xuất



Bài thơ được xem như là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam.

"Nam Quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !"


Lư Thường Kiệt vốn thuộc họ Ngô, tên thật là Tuấn, tự là Thường Kiệt, sau được ban quốc tính (được mang họ nhà vua), nên gọi là Lư Thường Kiệt.

Quê gốc của ông là làng An Xá, huyện Quảng Đức, kinh thành Thăng Long. Làng An Xá sau đổi tên là Phúc Xá (nay thuộc quận Ba Đ́nh).

Từ nhỏ Lư Thường Kiệt đă tỏ ra người có chí hướng và nghị lực, chăm học tập, rèn luyện cả văn lẫn vơ, từng nghiên cứu về binh pháp.

Dưới triều Lư Thái Tông, ông được bổ nhiệm giữ chức Kỵ mă hiệu úy (một chức quan nhỏ trong kỵ binh), lúc ông 21 tuổi. Năm 1041, 23 tuổi, ông được sung vào ngạch thị vệ để hầu vua, giữ chức Hoàng môn chi hậu, và được thăng dần lên chức Đô tri, trông coi mọi việc trong cung.

Đầu Triều Lư Thái Tông, ông được phong chức Bổng hành quân hiệu úy (một chức vơ quan cao cấp), rồi được thăng Kiểm hiệu thái bảo. Năm 1061, ông được lệnh cầm quân đi trấn yên Thanh - Nghệ.

Năm 1069, ông cầm quân đi đánh Champa. Lần này vua Lư Thánh Tông thân chinh, Lư Thường Kiệt được phong đại tướng, chỉ huy đội tiên phong tiến vào đánh phá kinh thành. Quốc vương Champa bị bắt đưa về Thăng Long, đă xin dâng đất để chuộc tội, gồm ba châu Bố Chánh, Địa Lư, Ma Linh (nay là địa phận Quảng B́nh và bắc Quảng Trị).

Sau khi toàn thắng, giữ yên được biên giới phía Nam, Lư Thường Kiệt được ban các chức tước: Phụ quốc tháo phó và Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Khai quốc công. Ít lâu sau ông lại được thăng chức Thái úy, Đồng trung thư môn hạ b́nh chương sự (là chức quan thứ hai trong triều), đứng sau chức Thái sư lúc ấy là do Lư Đạo Thành đảm nhiệm.

Năm 1072, Lư Thánh Tông từ trần. Lư Nhân Tông lên nối ngôi khi mới có 7 tuổi. Trong khi ấy, chính quyền phương Bắc vẫn luôn nḥm ngó. Chúng xem đây là một cơ hội tốt để tiến hành ráo riết việc chuẩn bị xâm lược nước ta. Tại ba châu Ung, Khâm, Liêm (thuộc Quảng Đông , Quảng Tây ngày nay), chúng xây dựng những căn cứ quân sự và hậu to lớn để làm nơi xuất phát trực tiếp cho các đạo quân xâm lược.

Lúc này, sau khi Lư Nhân Tông lên ngôi, Lư Thường Kiệt được giữ chức Đôn quốc thái úy, Đại tướng quân, Đại tư đồ, tược hiệu Thượng phụ công. Với cương vị như Tể tướng, ông nắm toàn quyền cả văn lẫn vơ. Điều có cũng có nghĩa là phải gánh vác nặng nề và chịu trách nhiệm to lớn đối với giang sơn xă tắc. Ông nhận lấy sứ mệnh thiêng liêng, trực tiếp tổ chức và lănh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược.

Đứng trước âm mưu và hành động rơ ràng công khai của địch, ông cho rằng: "Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước, chặn thế mạnh của giặc". Được triều đ́nh tán thành, ông huy động 10 vạn quân tiến hành một cuộc tập kích đánh thẳng vào các căn cứ chuẩn bị xâm lược của kẻ thù ngay trên đất Tống.

Với danh nghĩa chính đáng là chỉ đánh Tống để giữ nước là đưa quân tới là để cứu dân, Lư Thường Kiệt đă viết bài hịch Phạt Tống lộ bố văn (bài văn công bố đánh giặc Tống) và cho yết bảng ở khắp nơi mà quân đội ta đi qua.

Bài hịch truyền đi đă đạt hiệu quả lớn: quân đội của Lư Thường Kiệt tiến đến đâu cũng đều được nhân dân Trung Hoa ở đó hoan nghênh, hưởng ứng.

Quân Việt bắt đầu tiến công vào đất Tống từ ngày 27 tháng 10 năm 1075. Thoạt tiên, quân Việt phá hủy một loạt các đồn trại biên giới, rồi lần lượt đổ bộ lên cảng và đánh chiếm các thành Khâm, Liêm. Sau đó đại quân tiếp tục tiến sâu vào đất địch.

Ngày 18 tháng 1 năm 1076 áp sát thành Ung. Đây là căn cứ quan trọng nhất trong những căn cứ địch dùng cho cuộc viễn chinh xâm lược vào Đại Việt. Sau 42 ngày vây hăm và tấn công quyết liệt, ta hạ được thành, tiêu diệt và bắt sống nhiều tên địch.

Theo chủ trương đă định, quân ta được lệnh san bằng các thành lũy lớn nhỏ, tiêu huy các kho tàng lương thực, vũ khí, giáng đ̣n sấm sét làm tổn thất nghiêm trọng các cơ sở vật chất và phương tiện chiến tranh của địch, làm nhụt nhuệ của bọn cầm quyền phương Bắc trong việc chuẩn bị chiến tranh xâm lược.

Sau khi đă đạt mục tiêu của cuộc đánh sang đất Tống, Lư Thường Kiệt quyết định rút nhanh quân về nước. Cuộc rút quân rất đúng lúc, vừa bảo toàn được lực lượng, vừa phá được kế hiểm của giặc: chúng định điều quân lẻn sang đánh úp Đại Việt nhân lúc đại quân c̣n đang ở bên nước chúng.

Cuộc tập kích chiến lược đă giành được thắng lợi hoàn toàn. Lịch sử ghi nhận chiến công kỳ diệu này, chiến công có một không hai trong lịch sử kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc Việt. Gắn liền với chiến công ấy, là tên tuổi vị chủ tướng tài ba Lư Thường Kiệt.

Nhà viết sử Ngô Th́ Sĩ ca ngợi ông: "bày trận đường đường, kéo cờ chính chính, mười vạn thẳng sâu vào đất khách, phá quân ba châu như chẻ trúc, lúc tới c̣n không ai dám địch, lúc rút quân c̣n không ai dám đuổi, dụng binh như thế, chẳng phải nước ta chưa từng có bao giờ"? (Việt sử tiêu án).

Tuy bị thua đau, nhưng nhà Tống vẫn rất ngoan cố. Lư Thường Kiệt biết chắc thế nào chúng cũng sẽ kéo quân sang phục thù và tiếp tục thực hiện mục tiêu xâm lược mà chúng chưa bao giờ chịu từ bỏ.

Ông cử người vào đất Tống để theo dơi cụ thể công việc chuẩn bị và kế hoạch xâm lược của quân Tống.

Ông tự ḿnh đi xem xét vùng biên cương phía nam và tăng cường lực lượng bố pḥng ở đó nhằm chặn sự tiến công quấy rối của quân Champa.

Ông bố trí kế hoạch cho các lực lượng vũ trang địa phương, các thổ binh, hương binh ở vùng núi phía bắc làm nhiệm vụ kiềm chế và tiêu hao địch trên các con đường tiến vào của chúng.

Ông tập trung xây dựng pḥng tuyến chính của quân ta dựa vào bờ nam sông Như Nguyệt (sông Cầu), có rào giậu nhiều tầng, chạy dài trên 200 dặm từ chân núi Tam Đảo đến sông Lục Đầu. Dưới sông có thủy quân, trên thành có quân đóng và tuần tiễu. Với pḥng tuyến này, quân ta nắm chắc khả năng chặn địch, bảo vệ an toàn kinh thành Thăng Long và cả một vùng trung châu rộng lớn và trù phú của đất nước.

Cuối năm 1076, đại quân Tống chia làm nhiều cách vượt biên giới tiên ào ạt vào Đại Việt. Sau một tháng phải luôn luôn đối phó với những cuộc chống trả quyết liệt của nhân dân Đại Việt trên vùng biên giới và thượng du. Cuối cùng ngày 18 tháng 1 năm 1077, đại quân Tống cũng tiến được tới bờ bắc sông Cầu. Nhưng đến đây, chúng đă bị chặn đứng lại. Pḥng tuyến sông Cầu sừng sững như một bức tường thành, vững chăi, uy nghiêm và đầy thách thức. Chúng buộc phải dừng quân, tập kết trên một trận tuyến dài 30km từ bến đ̣ Như Nguyệt đến chân núi Nham Biền, để từ đó triển khai các đợt tiến công sang pḥng tuyến của quân Việt.

Một lần, chúng tập trung binh lực, đột phá trận tuyến quân Việt ở bến đ̣ Như Nguyệt, chọc thủng được một đoạn pḥng tuyến quân tiên phong của chúng tiến về phía Thăng Long. Nhưng quân Việt do Lư Thường Kiệt chỉ huy đă phản công kịch liệt. Chúng bị tổn thất nặng nề, phải mở đường máu mà tháo chạy.

Lần khác, chúng lại mở đợt tấn công mới. Với những bè lớn, mỗi bè trở được 500 quân qua sông, chúng liên tiếp đưa những đạo quân mạnh đổ bộ lên bờ nam. Nhưng ở đây chúng lại đụng phải sức phản công dữ dội của lực lượng chiến đấu dũng mănh dưới sự chỉ huy linh hoạt sắc bén của tướng quân Lư Thường Kiệt. Những đạo quân đổ bộ đều bị tiêu diệt hoặc phải đầu hàng.

Vào lúc cuộc chiến ra vô cùng quyết liệt, Lư Thường Kiệt đă viết Nam quốc sơn hà - một bài thơ bất hủ để cổ vũ tinh thần binh sĩ. Tương truyền rằng ông đă sai người giả làm thần nhân, nấp trong đền Truơng Hát ở bờ nam cửa sông Như Nguyệt, đọc bài thơ này.

Theo sách Việt điện u linh th́ tướng quân Trương Hát là thần sông Như Nguyệt, chính thần nhân này đă được đọc bài thơ trên. Sách c̣n nói: "Đang đêm nghe tiếng vang trong đền đọc bài thơ ấy, quân ta đều phấn khởi. Quân Tống sợ táng đẩm, không đánh cũng tan".

Bài thơ Nam quốc sơn hà khẳng định chân lư hùng hồn: Nước Nam là một quốc gia lănh thổ riêng, cương giới rạch ṛi, quyền độc lập tự chủ của dân tộc là thiêng liêng bất khả xâm phạm.

Bài thơ thể hiện khí phách hào hùng về ư chí gang thép của dân tộc, cảnh cáo nghiêm khắc kẻ ngoại xâm, đồng thời cổ vũ mạnh mẽ quân dân ta hăng hái chiến đấu, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi hoàn toàn.

Đi vào lịch sử, bài thơ được coi như bài Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc ta sau hơn một ngàn năm bị phong kiến nước ngoài đô hộ.

Qua thực tế chiến trường trên pḥng tuyến sông Cầu, bài "thơ thần"đă truyền đi đă có một sức mạnh kỳ lạ, làm nao núng tinh thần quân địch, làm tăng nhuệ khí và thêm sức chiến đấu cho quân ta, trực tiếp góp phần làm xoay chuyển cục diện cuộc chiến đang trong giai đoạn cực kỳ quyết liệt, tạo điều kiện cho cuộc phản công chiến lược giành thắng lợi quyết định. Đó là cuộc phản công chiến lược do Lư Thường Kiệt chỉ huy, đại quân ta vượt sông bất ngờ đánh úp vào doanh trại chính của địch. Theo Việt sử lược th́ quân Tống đại bại, bị tiêu diệt đến năm, sáu phần mười.

Sau chiến thắng trên, Lư Thường Kiệt đă chủ động phái người sang sông gặp tướng chỉ huy quân Tống, đặt vấn đề ḥa giải nhằm sớm chấm dứt chiến tranh, với điều kiện là toàn bộ quân Tống phải rút khỏi đất Việt.

Bọn chỉ huy quân Tống đang lúc hoang mang cực độ trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, chúng vội vàng nhận điều kiện trên và lập tức rút quân hồi tháng 3 năm 1077, không cần chờ lệnh của triều đ́nh nhà Tống.

Trong cuộc chiến đấu lần này, quân dân Đại Việt đă tiêu diệt hơn 19.000 quân địch. Tính cả cuộc tập kích lần trước vào Ung-Khâm-Liêm, quân Việt đă tiêu diệt gần 30.000 tên.

Thắng lợi huy hoàng của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Tống (1075-1077) là một minh chứng hùng hồn về sự phát triển vượt bậc của dân tộc Việt sau một thế kỷ giành độc lập, quốc gia Đại Việt đă có đủ sức mạnh để chống lại một đế quốc lớn mạnh.

Làm nên thắng lợi, có công sức và sự hy sinh to lớn của toàn dân đoàn kết, chiến đấu kiên cường, dũng cảm và mưu trí sáng tạo. Làm nên thắng lợi, có cống hiến lớn lao của vị tướng tổng chỉ huy Lư Thường Kiệt. Với tài năng thao lược và nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh kiệt xuất, luôn luôn thể hiện một tư tưởng tiến công rất cao trong chỉ đạo tác chiến, ông liên tục tiến công kẻ thù: đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động, phản công nhanh chóng và quyết liệt ngay khi bị kẻ thù tiến công, đánh ngay vào đội quân mạnh nhất của địch, ngay trên hướng tiến công chủ yếu của chúng. Ông khéo kết hợp giữa tiến công và pḥng ngự tích cực, giữa các cách đánh tập trung, đánh trận địa và đánh vận động. Ông vận dụng tài t́nh sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với công tác chính trị và hoạt động ngoại giao.

Non sông sạch bóng quân thù. Lúc này vua mới 12 tuổi. Lư Thường Kiệt lại tiếp tục gánh trách nhiệm lớn của triều đ́nh trong công cuộc xây dựng đất nước, chăm lo đời sống nhân dân. Ông đă cho tu bổ đê điều, đường sá, đ́nh chùa hư hỏng trong chiến tranh và tiến hành nhiều biện pháp nhằm cải tổ bộ máy hành chính trong toàn quốc.

Năm 1028, ông thôi chức Tể tướng và được cử về trị nhậm trấn Thanh Hóa. Làm việc ở đây suốt 19 năm trời, đến năm 1101 th́ vua Lư Nhân Tông lại mời ông trở lại về triều giữ lại chức Tể tướng. Lúc này ông đă 82 tuổi.

Già rồi, nhưng ông vẫn t́nh nguyện cầm quân đi đánh giặc Lư Giác ở Diễn Châu (năm 1103), dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở Bố Chính (năm 1104). Ông c̣n tổ chức lại quân đội, duyệt đổi lại các đơn vị từ cấm binh đến dân quân.

Lư Thường Kiệt là một trọng thần đă trải ba triều vua (Lư Thái Tông, Lư Thánh Tông, Lư Nhân Tông), luôn luôn được triều đ́nh tin tưởng, nể trọng.

Từ đời Lư Thánh Tông, ông đă được cất lên ngang hàng các hoàng tử, được vua nhận làm con nuôi và ban hiệu Thiên tử nghĩa nam. Đời Lư Nhân Tông, ông được nhà vua coi như em và ban hiệu Thiên tử nghĩa đệ

Ông mất năm 1105, thọ 86 tuổi. Khi mất được phong tặng Kiểm hiệu Thái úy b́nh chương quân quốc trọng sự, Việt quốc công, được lập đền thờ ở nhiều nơi.

Lư Thường Kiệt là một nhà quân sự kiệt xuất, có tài thao lược lỗi lạc, phá Tống b́nh Chiêm, đánh đâu thắng đấy. Ông cũng là một nhà chính trị tài giỏi và ngoại giao xuất sắc. Về văn học, ông để lại cho đời bài thơ bất hủ Nam quốc sơn hà,tác phẩm nổi tiếng nhất đời Lư và bài hịch hùng tráng Phạt Tống lộ bố văn.

Ông là một nhân cách lớn. Văn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn đă ca ngợi ông như sau:

"Làm việc th́ siêng năng, điều khiển dân th́ đôn hậu, cho nên dân được nhờ cậy. Khoan ḥa giúp đỡ trăm họ, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên nhân dân kính trọng. Dùng uy vũ để trừ gian ác, đem minh chứng để giải quyết ngục tụng, cho nên h́nh ngục không quá lạm. Thái úy biết rằng dân lấy sự no ấm làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để nỡ thời vụ. Tài giỏi mà không khoe khoang. Nuôi dưỡng đến cả những người già ở nơi thôn dă, cho nên người già nhờ thế mà được yên thân. Phép tắc như vậy có thể là cái gốc trị nước, cái thuật yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả".

Lư Thường Kiệt là một anh hùng dân tộc bậc nhất của đời Lư mà tên tuổi và sự nghiệp vẫn sáng chói măi trong lịch sử vinh quang của dân tộc./.



(TTXVN/Vietnam+)
__________________
Hue Tourist Attractions
Hue constructions & Skyline
Hue pre 75
Hue monuments
Hue Festival
Hue truc thuoc TW
Hue Fashion (Old and Today)

ĐẠI VIỆT - 大越
南國山河
"Nam quốc son hà Nam đế cư 南國山河南帝居
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư 截然定份在天書
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm 如何逆虜來侵犯
Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư !" 汝等行看取敗虛

Lư Thường Kiệt 李常傑
Ancient capital no está en línea   Reply With Quote


Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off



All times are GMT +2. The time now is 03:48 PM.


Powered by vBulletin® Version 3.8.8 Beta 1
Copyright ©2000 - 2014, vBulletin Solutions, Inc.
Feedback Buttons provided by Advanced Post Thanks / Like v3.2.5 (Pro) - vBulletin Mods & Addons Copyright © 2014 DragonByte Technologies Ltd.

vBulletin Optimisation provided by vB Optimise (Pro) - vBulletin Mods & Addons Copyright © 2014 DragonByte Technologies Ltd.

SkyscraperCity ☆ In Urbanity We trust ☆ about us | privacy policy | DMCA policy

Hosted by Blacksun, dedicated to this site too!
Forum server management by DaiTengu